Hồi quy là nghiên cứu sự tác động của biến độc lập đến biến phụ thuộc và nếu biết được giá trị của biến độc lập thì ta ước lượng được giá trị của biến phụ thuộc.
Hàm hồi quy (Y: biến phụ thuộc, X: biến độc lập)
Hàm hồi quy 2 biến Y=f(X) + U (U: sai số ngẫu nhiên)
Nếu f là tuyến tính (mũ của biến độc lập là 1 và các biến cách nhau bởi dấu cộng) thì Y=b1+b2X+U
b2 cho biết lượng thay đổi trung bình của Y khi X thay đổi một đơn vị.
* Chọn hồi quy mẫu nào?
- Sai số nhiều hay ít =>R2?
- Hồi quy mẫu có đại diện tốt cho tổng thể hay không? => 5 giả thuyết của OLS
- Hồi quy mẫu có phù hợp với lý thuyết hay không và có phục vụ cho mục đích nghiên cứu hay không?
1) Hệ số xác định của mô hình
R2= 1- RSS/TSS = ESS/TSS
Nếu R2=0 => Mô hình không phù hợp với mẫu nghiên cứu.
Nếu R2=1 => Mô hình hoàn toàn phù hợp với mẫu nghiên cứu.
*Ý nghĩa của R2
R2 cho biết mức độ giải thích của các biến độc lập trong mô hình với sự biến động xung quanh giá trị trung bình của Y.
Phần còn lại 1-R2 là phần biến động của Y chưa được giải thích gây ra bởi sai số và các biến chưa đưa vào mô hình.
Ví dụ: R2=96,77% có ý nghĩa: Các biến độc lập chi phí chào hàng, chi phí quảng cáo đã giải thích được 96,77% của doanh thu Y quanh giá trị trung bình của nó.
*Kiểm định R2
Đặt giả thuyết H0 sao cho sai lầm loại 1 là nghiêm trọng hơn sai lầm loại 2.
Ví dụ: có bệnh nhưng không chữa bệnh đc xem là sai lầm nghiêm trọng hơn so với không bệnh nhưng lại chữa bệnh => giả thuyết H0 là có bệnh.
Vậy giả thuyết để kiểm định hệ số xác định của mô hình (đang trong mục tiêu kiểm định mô hình hồi quy) là H0: R2=0
Mức ý nghĩa anpha là khả năng mắc sai lầm nghiêm trọng (mức ý nghĩa của kiểm định)
+ Nếu F > F tra bảng => bác bỏ H0
+ Nếu F < F tra bảng => chấp nhận H0
hoặc
+ Nếu p_value < anpha =>bác bỏ H0
+ Nếu p_value >= anpha => chấp nhận H0.
*Khi càng thêm biến độc lập vào mô hình thì R2 càng tăng (và số quan sát càng nhiều ~ bậc tự do càng lớn thì R2 càng giảm vì sai số càng cao)
Ta xem xét R2 hiệu chỉnh
Khi thêm biến thì (1) k tăng => R2 hiệu chỉnh sẽ giảm;
(2) R2 tăng => R2 hiệu chỉnh tăng.
Kết luận:
+ Khi thêm biến, nếu R2 hiệu chỉnh tăng => việc thêm biến là tốt cho mô hình
+ Khi thêm biến, nếu R2 hiệu chỉnh giảm => việc thêm biến là không tốt cho mô hình.
2. 5 giả thiết của OLS
- Giả thiết 1: Mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập là tuyến tính. Các biến độc lập cho trước và không ngẫu nhiên. (Có thể hiểu tính không ngẫu nhiên ở đây là giá trị của biến độc lập không đổi qua các lần đo - giá trị là lặp lại với mẫu lặp lại).
- Giả thiết 2: Sai số trong mô hình có giá trị trung bình bằng 0 và phương sai của sai số là không đổi.
- Giả thiết 3: Không có sự tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình. (tương quan giữa các biến độc lập trong cùng một quan sát)
- Giả thiết 4: Không có sự tương quan giữa các sai số trong mô hình. (tương quan giữa các quan sát -nghĩa là số liệu thu thập từ người 1, ko tương quan với số liệu thu thập dc từ người thứ 2,3..n; dùng mẫu để kết luận mô hình nhưng nếu nó tương quan với nhau thì sẽ không chính xác)
- Giả thiết 5: Không có sự tương quan giữa biến độc lập và sai số trong mô hình.
*Tính vững và hiệu quả của mô hình
+ Tính hiệu quả: các lần ước lượng chênh lệch với nhau rất ít (phương sai của các lần ước lượng nhỏ)
+ Tính vững: các ước lượng xoay quanh giá trị đúng
Ví dụ: Các lần ước lượng rất gần nhau và gần giá trị đúng (vừa vững và vừa hiệu quả)
=> Yêu cầu tính vững là đầu tiên.
Nếu bộ số liệu thỏa mãn cả 5 điều kiện OLS (vừa vững vừa hiệu quả) thì bất kỳ mẫu nào nó cũng đều cho kết quả phản ánh đúng tổng thể.
- Giả thiết 2 vi phạm => phương sai thay đổi => Ước lượng OLS ko hiệu quả
- Giả thiết 3 vi phạm => đa cộng tuyến => OLS ko bị ảnh hưởng về tính vững và tính hiệu quả
- Giả thiết 4 vi phạm => hiện tượng tự tương quan => OLS ko hiệu quả
- Giả thiết 5 vi phạm => hiện tượng nội sinh => OLS là ko vững (quan trọng)
Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013
Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013
Chỉ tiêu qua GDP qua các năm tại Worldbank
|
Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013
BÀN THÊM VỀ VẤN ĐỀ VỐN CỐ ĐỊNH VÀ VỐN LƯU ĐỘNG
BÀN THÊM VỀ VẤN ĐỀ VỐN CỐ ĐỊNH VÀ VỐN LƯU ĐỘNG
5Jul2007
Tôi xin tiếp tục bàn thêm về đề tài vốn cố định và vốn lưu động các bạn đang trao đổi. Thực ra mọi người đều hiểu khái niệm mình đang nói là cái gì. Vì vậy những tranh luận ở đây chỉ là về mặt từ ngữ thôi. Nếu xét trên tiêu chí "substance over form" thì không có gì phải tranh luận ở đây cả. Tuy nhiên, về mặt khoa học thì tôi nghĩ việc dùng từ ngữ chính xác cũng quan trọng. Vì vậy mạn phép xin tí đất trên saga để tiếp tục chủ đề này.
(1) Về giải thích của bạn kimchi tại sao lại gọi là vốn cố định và vốn lưu động:
Tôi không nói là bạn sai, vì những gì bạn nói đúng như trong phần lớn các giáo trình Tài chính hiện hành. Điều tôi muốn nói ở đây là tại sao chúng các giáo trình lại dùng thuật ngữ "vốn cố định" và "vốn lưu động" để chỉ những thứ đã có một tên gọi khác là "tài sản cố định" và "tài sản lưu động". Tất cả các phân tích trong bài viết của bạn đều đề cập tới "tài sản cố định" và "tài sản lưu động". Chỉ có mỗi câu mở đầu định nghĩa "Vốn cố định/lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định/lưu động". Như vậy, khi ta nói "vốn lưu động" hay "vốn cố định" tức là ta hiểu đó là "giá trị tài sản lưu động" hay "giá trị tài sản cố định" đúng không? Vậy tại sao chúng ta không sử dụng nhất quán khái niệm "tài sản cố định" và "tài sản lưu động" mà lại gọi nó là "vốn"?
Bạn cho rằng phải hiểu hai khái niệm "vốn cố định" và "vốn lưu động" thì mới có thể phân tích được các chỉ tiêu tài chính như "hiệu suất sử dụng vốn lưu động", "hiệu suất sử dụng vốn cố định", "hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh" của doanh nghiệp. Thực chất thì tôi lại thấy bạn đang đề cập tới "hiệu suất sử dụng tài sản lưu động, "hiệu suất sử dụng tài sảncố định" (nếu bạn dịch sang tiếng Anh thì bạn phải sử dụng thuật ngữ return on assets thì mọi người mới hiểu bạn đang nói gì). Còn chỉ tiêu thứ 3 thì lại liên quan tới nguồn vốn chủ sử hữu (equity) chứ không có liên quan gì đến vốn cố định hay lưu động cả.
(2) Về ý kiến của bạn lengocloi
Đồng ý với bạn rằng việc phân biệt tài sản cố định - tài sản lưu động, vốn ngắn hạn - vốn dài hạn là cần thiết. Tuy nhiên, tôi thấy lập luận của bạn không được nhất quán lắm.
Ở đoạn thứ 2 bạn có giải thích rằng "Kế toán không thể cầm 2 đồng trong tay, lúc nào cũng nghĩ, đồng này mua mắm, đồng này mua rượu !".Tuy nhiên, trong ví dụ sau đó thì rõ ràng là bạn đang phân biệt đồng nào mua mắm đồng nào mua rượu rồi đó.
Nếu tôi có 100 đồng, tôi đi vay ngắn hạn 20 đồng để có 120 đồng. Tôi mua tài sản cố định 80 đồng, tài sản lưu động 40 đồng. Vậy theo bạn thì tôi đang lấy vốn ngắn hạn để tài trợ tài sản dài hạn hay, ngược lại, tôi đang dùng 20 đồng vốn dài hạn để tài trợ tài sản ngắn hạn?
Một điểm nữa mà tôi cho rằng ý kiến của bạn chưa hợp lý (mặc dù đúng theo sách) là bạn cho rằng doanh nghiệp dùng vốn ngắn hạn để tài trợ tài sản dài hạn thì sẽ không có nguồn trả nợ (vì khấu hao không kịp). Tôi không nghĩ việc khấu hao chậm hay nhanh có ảnh hưởng tới khả năng trả nợ. Khả năng trả nợ đến hạn phụ thuộc vào luồng tiền của doanh nghiệp. Bản thân việc khấu hao không tạo ra tiền (cash). Vì vậy bất luận bạn khấu hao nhanh hay chậm nhưng doanh nghiệp của bạn không tạo ra được đủ tiền mặt để thanh toán nợ thì bạn cũng vẫn mất khả năng thanh toán.
Một lần nữa xin nhắc lại ý kiến của tôi chỉ là để trao đổi nhằm làm sáng tỏ hơn vấn đề. Khoa học không có gì tuyệt đối đúng hay sai cả (kể cả câu này).
Chào thân ái và quyết thắng!
(1) Về giải thích của bạn kimchi tại sao lại gọi là vốn cố định và vốn lưu động:
Tôi không nói là bạn sai, vì những gì bạn nói đúng như trong phần lớn các giáo trình Tài chính hiện hành. Điều tôi muốn nói ở đây là tại sao chúng các giáo trình lại dùng thuật ngữ "vốn cố định" và "vốn lưu động" để chỉ những thứ đã có một tên gọi khác là "tài sản cố định" và "tài sản lưu động". Tất cả các phân tích trong bài viết của bạn đều đề cập tới "tài sản cố định" và "tài sản lưu động". Chỉ có mỗi câu mở đầu định nghĩa "Vốn cố định/lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định/lưu động". Như vậy, khi ta nói "vốn lưu động" hay "vốn cố định" tức là ta hiểu đó là "giá trị tài sản lưu động" hay "giá trị tài sản cố định" đúng không? Vậy tại sao chúng ta không sử dụng nhất quán khái niệm "tài sản cố định" và "tài sản lưu động" mà lại gọi nó là "vốn"?
Bạn cho rằng phải hiểu hai khái niệm "vốn cố định" và "vốn lưu động" thì mới có thể phân tích được các chỉ tiêu tài chính như "hiệu suất sử dụng vốn lưu động", "hiệu suất sử dụng vốn cố định", "hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh" của doanh nghiệp. Thực chất thì tôi lại thấy bạn đang đề cập tới "hiệu suất sử dụng tài sản lưu động, "hiệu suất sử dụng tài sảncố định" (nếu bạn dịch sang tiếng Anh thì bạn phải sử dụng thuật ngữ return on assets thì mọi người mới hiểu bạn đang nói gì). Còn chỉ tiêu thứ 3 thì lại liên quan tới nguồn vốn chủ sử hữu (equity) chứ không có liên quan gì đến vốn cố định hay lưu động cả.
(2) Về ý kiến của bạn lengocloi
Đồng ý với bạn rằng việc phân biệt tài sản cố định - tài sản lưu động, vốn ngắn hạn - vốn dài hạn là cần thiết. Tuy nhiên, tôi thấy lập luận của bạn không được nhất quán lắm.
Ở đoạn thứ 2 bạn có giải thích rằng "Kế toán không thể cầm 2 đồng trong tay, lúc nào cũng nghĩ, đồng này mua mắm, đồng này mua rượu !".Tuy nhiên, trong ví dụ sau đó thì rõ ràng là bạn đang phân biệt đồng nào mua mắm đồng nào mua rượu rồi đó.
Nếu tôi có 100 đồng, tôi đi vay ngắn hạn 20 đồng để có 120 đồng. Tôi mua tài sản cố định 80 đồng, tài sản lưu động 40 đồng. Vậy theo bạn thì tôi đang lấy vốn ngắn hạn để tài trợ tài sản dài hạn hay, ngược lại, tôi đang dùng 20 đồng vốn dài hạn để tài trợ tài sản ngắn hạn?
Một điểm nữa mà tôi cho rằng ý kiến của bạn chưa hợp lý (mặc dù đúng theo sách) là bạn cho rằng doanh nghiệp dùng vốn ngắn hạn để tài trợ tài sản dài hạn thì sẽ không có nguồn trả nợ (vì khấu hao không kịp). Tôi không nghĩ việc khấu hao chậm hay nhanh có ảnh hưởng tới khả năng trả nợ. Khả năng trả nợ đến hạn phụ thuộc vào luồng tiền của doanh nghiệp. Bản thân việc khấu hao không tạo ra tiền (cash). Vì vậy bất luận bạn khấu hao nhanh hay chậm nhưng doanh nghiệp của bạn không tạo ra được đủ tiền mặt để thanh toán nợ thì bạn cũng vẫn mất khả năng thanh toán.
Một lần nữa xin nhắc lại ý kiến của tôi chỉ là để trao đổi nhằm làm sáng tỏ hơn vấn đề. Khoa học không có gì tuyệt đối đúng hay sai cả (kể cả câu này).
Chào thân ái và quyết thắng!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của gaubo và longplt. Khấu hao chỉ ảnh hưởng đến lợi nhuận chứ không làm tăng hay giảm luồng tiền. Và tất nhiên "sách viết không phải lúc nào cũng chính xác", bởi vì sách cũng chính do con người viết ra.
Thân mến.
vốn lưu động RÒNG = ...
Giả sử bạn mới thành lập một doanh nghiệp và bạn phải đi vay 100 đồng để mua sắm tài sản cố định. Để đơn giản ta giả định doanh nghiệp của bạn thuộc dạng được ưu đãi đầu tư nên không phải nộp thuế TNDN.
Nếu như khoản vay của bạn có thời hạn 5 năm, mỗi năm bạn phải trả 20 đồng (bỏ qua tiền lãi). Giả sử năm thứ nhất công ty bạn kinh doanh sau khi trừ các chi phí thì luồng tiền còn lại là 10 đồng (trước khi trả lãi vay). Trong khi đó tiền nợ vay phải trả là 20 đồng.
Theo tôi, khi bạn bảo "sau khi trừ các chi phí " thì thật ra bao hàm cả khấu hao. Hay chính xác hơn, theo ví dụ trên của bạn: (Giả sử khấu hao 10 năm -> 10đ/năm), thì luồng tiền của doanh nghiệp: 10đ (khấu hao để lại) + 10 đồng lợi nhuận = 20đ.
Những điều đã trao đổi của Lengocloi khá mâu thuẫn!
Cảm ơn các anh chị đã đọc!
Hãy thử nghiệm với ví dụ sau đây : Bạn lập một kế hoạch tài chính, trong đó CP vật liệu, Nhân công là 200; khấu hao là 100. Giá thành sản phẩm là 300. Bạn muuốn lãi thì phải bán 301 (hoặc lớn hơn). Bây giờ khấu hao 200, giá thành đã là 400 rồi, Bạn muốn bán có lãi (và thu tiền) thì Bạn phải bán 401 (hoặc lớn hơn). Do vậy, khấu hao đã là một yếu tố tạo tiền rồi đó.
Nói về bản chất thì chắc chắn sẽ rất dài dòng. Bạn tìm tài liệu hướng dẫn cách lập "Báo cáo Lưu Chuyển tiền tệ" theo Phương pháp Gián tiếp, Bạn sẽ thấy vấn đề Tôi đưa ra là đúng.
Thêm cả ý kiến của Long nữa mà bạn lengocloi vẫn không đồng ý thì tôi cũng xin bó tay không giải thích được nữa.
Xin có thêm ý kiến về ví dụ bạn lengocloi đưa ra để chứng minh quan điểm khấu hao có thể tạo ra tiền.
Hãy thử nghiệm với ví dụ sau đây : Bạn lập một kế hoạch tài chính, trong đó CP vật liệu, Nhân công là 200; khấu hao là 100. Giá thành sản phẩm là 300. Bạn muuốn lãi thì phải bán 301 (hoặc lớn hơn). Bây giờ khấu hao 200, giá thành đã là 400 rồi, Bạn muốn bán có lãi (và thu tiền) thì Bạn phải bán 401 (hoặc lớn hơn). Do vậy, khấu hao đã là một yếu tố tạo tiền rồi đó.
Theo tôi hiểu thì ý của bạn ở đây là nếu khấu hao 100 thì bán với giá 301, còn nếu khấu hao 200 thì bạn sẽ bán với giá 401, như vậy việc tăng khấu hao 100 đồng sẽ có tác dụng tăng luồng tiền lên 100 đồng?
Trừ khi bạn là EVN (Tổng công ty Điện lực Việt Nam), còn thì nói chung giá cả do thị trường chứ không phải do doanh nghiệp quyết định. Thị trường không cần quan tâm bạn khấu hao với mức bao nhiêu. Nếu thị trường chỉ chấp nhận mức giá hợp lý là 301 đồng thì dù bạn có khấu hao 200 hay 400 đi nữa thì bạn cũng chỉ có thể bán được sản phẩm với giá 301 đồng mà thôi. Có nghĩa là bạn không thể tăng luồng tiền của mình lên được đâu.
Chào thân ái!
Tôi đọc profile thấy gaubo có nghề nghiệp là Kiểm toán viên. Mà KTV thì chắc là một nghề quen thuộc với Cashflow Statement nhất.
Tôi lấy luôn ví dụ của LNL và một phần của gaubo để minh hoạ việc khấu hao không tạo ra tiền như thế nào (non-cash item).
Bạn lập một kế hoạch tài chính, trong đó CP vật liệu, Nhân công là 200; khấu hao là 100. Giá thành sản phẩm là 300. Bạn muuốn lãi thì phải bán 301 (hoặc lớn hơn).
Giả sử LNL bán sản phẩm của mình với giá 310. Lúc này lợi nhuận kế toán là 10.
Theo ý tưởng ví dụ của gaubo, giả sử LNL đi vay và sẽ phải trả lãi vay 150.
Ta xét xem LNL có bao nhiêu tiền để trả nợ tiền lãi vay cho ngân hàng nhé. LNL thu được 310, chi tiền ra 200 (chi phí nhân công trả bằng tiền). LNL còn lại 110. Vậy LNL thiếu mất 40 để trả lãi vay. Tôi, người đóng vai trò một cán bộ ngân hàng, đến đòi nợ lãi vay. LNL nói rằng, chờ tôi điều chỉnh lại tỷ lệ khấu hao để có tiền trả anh nhé???
Trong ví dụ của LNL có đề cập đến việc khi tăng chi phí khấu hao, doanh nghiệp tăng giá bán của sp để đảm bảo có lãi. Quan điểm này có thể sai lầm. Trong kinh doanh không phải cứ tăng giá bán thì mới thu được lợi nhuận. Sản phẩm đó có thể bán dưới giá thành nhưng vẫn có thể làm lợi cho doanh nghiệp do nó tạo ra phần đóng góp (contribution) để cover chi phí cố định. Mà khấu hao là một dạng chi phí cố định. Do vậy, khấu hao không hẳn là yếu tố quyết định khi xác định giá bán cũng như có tiếp tục kinh doanh sản phẩm đó nữa không.
Nếu như khoản vay của bạn có thời hạn 5 năm, mỗi năm bạn phải trả 20 đồng (bỏ qua tiền lãi). Giả sử năm thứ nhất công ty bạn kinh doanh sau khi trừ các chi phí thì luồng tiền còn lại là 10 đồng (trước khi trả lãi vay). Trong khi đó tiền nợ vay phải trả là 20 đồng.
Từ Chi phí ở đây nếu thay bằng chi phí bằng tiền (cash expense) thì có thể rõ ràng hơn.
Hãy thử nghiệm với ví dụ sau đây : Bạn lập một kế hoạch tài chính, trong đó CP vật liệu, Nhân công là 200; khấu hao là 100. Giá thành sản phẩm là 300. Bạn muuốn lãi thì phải bán 301 (hoặc lớn hơn). Bây giờ khấu hao 200, giá thành đã là 400 rồi, Bạn muốn bán có lãi (và thu tiền) thì Bạn phải bán 401 (hoặc lớn hơn). Do vậy, khấu hao đã là một yếu tố tạo tiền rồi đó.
Nói về bản chất thì chắc chắn sẽ rất dài dòng. Bạn tìm tài liệu hướng dẫn cách lập "Báo cáo Lưu Chuyển tiền tệ" theo Phương pháp Gián tiếp, Bạn sẽ thấy vấn đề Tôi đưa ra là đúng. Hoặc Bạn có thể tham khảo ý kiến của các Chuyên gia Tài chính, Tôi tin rằng không ai có quan điểm khác Tôi đâu.
Thân mến
LNL
Tôi xin được trao đổi tiếp với bạn về quan điểm sau:
Khấu hao là một dạng chi phí phi tiền tệ và làm tăng luồng tiền vào của doanh nghiệp. Nếu khấu hao không ảnh hưởng đến tiền thì làm gì có khái niệm "khấu hao nhanh để lấy lại vốn cho nhanh"!
Trước hết tôi khẳng định lại khấu hao không có tác động gì đến luồng tiền của doanh nghiệp cả, ngoại trừ lợi ích về thuế (nếu có). Tôi nói nếu có là vì không phải lúc nào khấu hao nhanh cũng tiết kiệm được thuế. Giả sử doanh nghiệp của bạn chịu thuế suất thuế TNDN là 28% thì 100 đồng khấu hao tăng thêm bạn sẽ tiết kiệm được 28 đồng. Tuy nhiên, tôi ngờ rằng cái lợi ích của khấu hao tăng thêm mà bạn đề cập đến lại không liên quan tới thuế.
Bây giờ tôi sẽ chứng minh cho bạn thấy quan điểm "khấu hao nhanh để tăng luồng tiền vào của doanh nghiệp" không ổn ở chỗ nào.
Giả sử bạn mới thành lập một doanh nghiệp và bạn phải đi vay 100 đồng để mua sắm tài sản cố định. Để đơn giản ta giả định doanh nghiệp của bạn thuộc dạng được ưu đãi đầu tư nên không phải nộp thuế TNDN.
Nếu như khoản vay của bạn có thời hạn 5 năm, mỗi năm bạn phải trả 20 đồng (bỏ qua tiền lãi). Giả sử năm thứ nhất công ty bạn kinh doanh sau khi trừ các chi phí thì luồng tiền còn lại là 10 đồng (trước khi trả lãi vay). Trong khi đó tiền nợ vay phải trả là 20 đồng.
Câu hỏi của tôi là bạn điều chỉnh khấu hao tài sản cố định kiểu gì để có thêm 10 đồng nữa để trả nợ?
Xin cảm ơn!
Thân mến.