Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

Thống kê kinh tế Trung Quốc : Một trò đánh đố

Đọc để so sánh với tình trạng số liệu thống kê của Việt Nam. Lần này về VN, tôi đã gặp một số lãnh đạo ngành thống kê để kêu gọi họ sớm đưa các chỉ tiêu tài chính, tiền tệ... vào Niên giám Thống kê.

Thống kê kinh tế Trung Quốc : Một trò đánh đố

Bến cảng chở hàng xuất khẩu tại tỉnh Liêu Ninh - REUTERS
Trọng NghĩaTrong những năm gần đây, các thị trường tài chính thế giới lúc nào cũng phải nôn nóng chờ đón các số liệu thống kê kinh tế Trung Quốc được Bắc Kinh thông báo. Thế nhưng, ngày càng có nhiều chuyên gia đặt câu hỏi về độ tin cậy của các số liệu chính thức Trung Quốc, bị tình nghi là bị chính quyền thao túng và bóp méo vì động cơ chính trị.
Theo ghi nhận của hãng tin Pháp AFP ngày 15/08/2013 vừa qua, giới phân tích đang càng lúc càng hoài nghi trước các chỉ số kinh tế tối quan trọng như GDP của Trung Quốc chẳng hạn, vào lúc mà càng ngày càng có khác biệt giữa số liệu chính thức của Bắc Kinh với ước tính của các chuyên gia liên quan đến các lãnh vực khác nhau, đặc biệt là số liệu về ngoại thương.

Sản xuất theo số Nhà nước thì tăng, nhưng theo HSBC thì giảm

Một ví dụ gần đây nhất là chỉ số PMI của hoạt động sản xuất tại Trung Quốc. Theo thống kê của chính phủ, chỉ số này đã tăng từ 50.1 trong tháng Sáu, lên thành 50.3 trong tháng Bảy, tức là sản xuất có tăng. Thế nhưng, theo tính toán của các chuyên gia ngân hàng HSBC rất có uy tín, chỉ số PMI của Trung Quốc lại biến thiên theo chiều ngược lại, từ 48.2 trong tháng Sáu, xuống còn 47.7 trong tháng Bảy.

Trong một nhận xét của mình, Stephen Green, chuyên gia kinh tế tại ngân hàng Standard Chartered đã không ngần ngại mỉa mai : « Nếu mà có một chỉ số đo lường mức độ hoài nghi đối với số liệu thống kê chính thức của Trung Quốc, thì lần này chỉ số đó sẽ đạt mức kỷ lục ».

Nguyên nhân rất đơn giản. Căn cứ vào toàn cảnh kinh tế Trung Quốc và thế giới hiện nay, tất cả các nhà quan sát đều dự báo rằng chỉ số PMI của nước này phải giảm, chứ không thể nào tăng như thống kê chính thức được Bắc Kinh đưa ra !

Giáo sư tài chính học Michael Pettis tại Đại học Bắc Kinh giải thích : « Một trong rất nhiều vấn đề ở Trung Quốc là số liệu thống kê luôn được coi là hàm chứa một ý nghĩa chính trị ».

Một trong những dấu hiệu bất thường được vị giáo sư này nêu bật là sự kiện Trung Quốc tính toán và công bố các thống kê hàng tháng và hàng năm nhanh hơn nhiều so với Pháp, một nước có nền kinh tế nhỏ hơn nhiều nhưng số liệu thống kê nổi tiếng là chính xác hơn.

Phát biểu với hãng tin Pháp AFP, ông Pettis không khỏi bâng khuâng : « Điều đó buộc ta phải tự hỏi là làm thế nào mà người Trung Quốc lại có thể thống kê nhanh hơn người Pháp như vậy. Điều này quả là một vấn đề ».

Bình quân tỷ lệ tăng trưởng của các tỉnh cao hơn tỷ lệ chung của cả nước !

Theo AFP, lâu nay, các chuyên gia luôn nghi ngờ sự xác thực của các số liệu do các quan chức địa phương cung cấp. Do việc sự nghiệp những người này chủ yếu phụ thuộc vào thành tích kinh tế tại khu vực họ quản lý, họ rất dễ sa vào việc « tô hồng » thực tế để lập công.

Đối với ông Toshiya Tsugami, giám đốc một công ty tư vấn, nguyên là cựu tham tán kinh tế tại Đại sứ quán Nhật Bản ở Bắc Kinh, khuyết điểm nằm ở cơ cấu chính trị của Trung Quốc, giao quyền hạn hành chính rộng lớn cho các địa phương, trong lúc chính quyền trung ương lại giữ quyền cất nhắc và thăng chức.

Ông Tsugami giải thích : « Các lãnh đạo địa phương do đó đã lao vào một cuộc cạnh tranh gay gắt để vùng của họ phô trương được một tỷ lệ tăng trưởng GDP cao nhất, qua đó giúp họ thăng quan tiến chức. Do việc họ đồng thời chịu trách nhiệm công bố số liệu thống kê, cho nên họ rất dễ dàng thổi phồng số liệu ».

Giáo sư Pettis cũng công nhận thực trạng nói trên. Theo ông, nếu cộng các tỷ lệ tăng trưởng của tất cả các tỉnh Trung Quốc lại với nhau, rồi tính bình quân, thì con số đạt được cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ tăng trưởng của cả nước, « một điều tất nhiên là phi lý ».

Trong bối cảnh đó, tỷ lệ tăng trưởng thực thụ của Trung Quốc, theo các chuyên gia, hoàn toàn có thể là không « hoành tráng » như Bắc Kinh từng công bố. Ông Stephen Green thuộc ngân hàng Standard Chartered chẳng hạn, đã so sánh các số liệu khác nhau về lạm phát để chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc chỉ là 7,2% trong năm 2011, và 5,5% trong năm 2012 - thấp hơn số liệu của chính phủ là 9,3% và 7,8%.

Bản thân ông Stephen Greencũng phải công nhận rằng tính toán của ông cũng chỉ là một trò đánh đố vì « để đặt vấn đề về các số liệu chính thức, ta lại phải dùng các con số chính thức (khác) », cũng thuộc loại có vấn đề !

Trong một bài nghiên cứu công bố tuần trước, Giáo sư Christopher Balding thuộc Trường Kinh doanh Ngân hàng HSBC của Đại học Bắc Kinh cho rằng số liệu « thiên lệch » về lạm phát, trong đó có giá bất động sản, có xu hướng thổi phồng một cách đáng kể quy mô của nền kinh tế Trung Quốc, vốn đã vươn lên đứng thứ hai trên thế giới sau Hoa Kỳ.

Trong một bản tóm lược gởi đến AFP, chuyên gia này nói rõ : « Nếu chúng ta điều chỉnh lại giá (chính thức) của bất động sản một cách chặt chẽ hơn, điều đó sẽ làm cho tỷ lệ lạm phát giá tiêu dùng thường niên ở Trung Quốc tăng thêm 1%, với hệ quả là GDP thực tế nước này bị mất đi hơn 1.000 tỷ đô la "(khoảng 12%) ».

Ngay Thủ tướng Trung Quốc cũng dè dặt với thống kê chính thức

Không chỉ có giới chuyên gia ngoại quốc là không tin tưởng nhiều vào số liệu thống kê chính thức của Trung Quốc. Hãng AFP nhắc lại : Chính đương kim Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường, cách đây vài năm đã thừa nhận là bản thân ông cũng phải thận trọng trước các chỉ số kinh tế chính thức.

Theo một điện mật của ngành ngoại giao Mỹ được WikiLeaks tiết lộ, vào năm 2007, khi còn là lãnh đạo tỉnh Liêu Ninh (miền Đông bắc Trung Quốc), ông Lý Khắc Cường đã tâm sự với Đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh rằng một vài số liệu của Trung Quốc được « chế tạo một cách thủ công », và do đó không đáng tin cậy.

Chính ông Lý Khắc Cường đã cho biết rằng bản thân ông, khi muốn đánh giá tình trạng kinh tế thực sự của tỉnh ông phụ trách, ông chỉ tập trung vào ba chỉ số : mức tiêu thụ điện, mức độ vận chuyển hàng hóa qua đường sắt và khối tín dụng đã cấp phát.

Theo bức điện được WikiLeaks tiết lộ, ông Lý Khắc Cường đã kết luận với một nụ cười rằng : « Tất cả các con số khác, đặc biệt là số liệu thống kê về GDP, chỉ mang tính chất tham khảo để biết thông tin mà thôi. »

http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20130817-thong-ke-kinh-te-trung-quoc-mot-tro-danh-do

"Thiếu vốn FDI, chúng ta đã không được như thế này"

Tư Hoàng
Thứ Sáu,  16/8/2013, 10:58 (GMT+7)
 

 

 

 

Ông Phan Hữu Thắng.
(TBKTSG Online) - Nhiều quan ngại đã bắt đầu xuất hiện về tình trạng nền kinh tế Việt Nam có thể sẽ bị phụ thuộc vào nước ngoài trong bối cảnh nguồn vốn FDI đang ngày càng lấn át, còn các doanh nghiệp của Việt Nam vẫn đang kiệt sức. Điều này nên nhìn nhận như thế nào?
Ông Phan Hữu Thắng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đầu từ Nước ngoài, Trường ĐH Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.
- Nhiều chuyên gia cho rằng, vốn FDI đang ngày càng trở nên quan trọng khi giúp bù đắp chênh lệch tới khoảng 10% GDP giữa tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư của Việt Nam. Có nghĩa là nền kinh tế sẽ cực kỳ khó khăn nếu thiếu luồng vốn này. Ông nhìn nhận thế nào?
- Ngày nay chúng ta thống nhất nhận thức rằng, vốn đầu tư phát triển là yếu tố trực tiếp quyết định tốc độ tăng trưởng. Với Việt Nam, các con số mà tôi đề cập sau đây minh chứng về đóng góp của nguồn vốn FDI vào tổng vốn đầu tư xã hội và trong GDP.
Vốn FDI tăng nhanh và chiếm tỉ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư xã hội qua các thời kỳ: từ 26,6 tỉ đô la Mỹ, chiếm 24,4% tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 1991-2000; lên 69,5 tỉ đô la, chiếm 22,7% tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 2001-2011.
Tỉ trọng đóng góp của FDI trong GDP tăng từ 2% năm 1992 lên 10,7% năm 2000, 16,9% năm 2006, 18,9% năm 2011. Những con số trên chứng tỏ, nguồn vốn FDI đã có một vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian qua. 
Khi hiệu quả đầu tư của Việt nam chưa nâng cao ngay được, nếu không có các nguồn vốn bổ sung như FDI thì khó đạt được mục tiêu tăng trưởng như trong các năm vừa qua. Thiếu nguồn vốn FDI này, tăng trưởng kinh tế chắc chắn sẽ thấp hơn, đồng thời còn tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực khác như công ăn, việc làm…
- Khối doanh nghiệp FDI, đặc biệt trong lĩnh vực cao như điện thoại, máy tính, máy ảnh,… đang đóng góp ngày càng nhiều vào thành tích xuất khẩu, bỏ qua tất cả các khu vực doanh nghiệp truyền thống nội địa khác của Việt Nam. Điều này nên mừng hay lo?
- Một trong những nhận định về những đóng góp của FDI vào phát triển KT-XH đất nước ta giai đoạn 25 năm qua, được nêu tại Hội nghị tổng kết 25 năm FDI tại Việt Nam tháng 3-2013 vừa qua là : FDI đã góp phần quan trọng vào xuất khẩu.
Cụ thể trước 2011, xuất khẩu của khu vực FDI chỉ đạt 45,2% tổng kim ngạch, kể cả dầu thô. Từ năm 2012, xuất khẩu của khu vực này đã trở thành nhân tố chính thúc đẩy xuất khẩu, chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012.
Trong 7 tháng đầu năm 2013, xuất khẩu khu vực này đạt 48,2 tỉ đô la (tính cả dầu thô), chiếm 66,3% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2012, riêng mặt hàng điện thoại di động và linh kiện, với giá trị đóng góp chính của Samsung Electronics Việt Nam, đã đạt kim ngạch xuất khẩu 11,6 tỉ đô la, đứng đầu danh sách các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Đối với những băn khoăn như trên, theo tôi, cần nghiên cứu kỹ hơn mô hình đầu tư của Samsung Electronics Việt Nam để vừa thu hút vốn đầu tư, chuyển dịch cơ cấu, thu hút công nghệ cao,vừa tăng kim ngạch xuất khẩu, vừa giải quyết việc làm.
- Nhiều người bắt đầu lo lắng khi sự hiện diện của các doanh nghiệp nước ngoài bắt đầu tràn ngập Việt Nam, từ các toà nhà cao tầng, các khu dân cư, cho đến các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. Ông nhìn nhận điều này như thế nào?
- Một nhận định quan trọng khác về FDI 25 năm qua là FDI đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với những dẫn chứng cụ thể là, hiện tại gần 60% vốn FDI tập trung vào lĩnh vực công nghiệp- xây dựng với trình độ công nghệ cao hơn mặt bằng chung của cả nước, tốc độ tăng trưởng đạt bình quân gần 18%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn ngành, tạo ra gần 45% giá trị sản xuất công nghiệp…
Bên cạnh đó, FDI đã tạo nên những chuyển biến mới trong lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao như khách sạn, văn phòng căn hộ cho thuê, ngân hàng, bảo hiểm, kế toán, logistic, siêu thị… các dịch vụ này đã đáp ứng được các nhu cầu về dịch vụ cao đối với Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế khu vực và thế giới thời gian qua, đặc biệt là nhu cầu hội họp, ăn ở, đi lại, giao dịch… của khách quốc tế, các đoàn ngoại giao, các nhà đầu tư, khách du lịch đến Việt Nam ngày càng đông.
Để nội địa hóa, có nghĩa là tăng cường sự tham gia của các doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam trong các lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao này, đặc biệt là trong việc sản xuất, xây dựng, thực hiện các mặt hàng thiết yếu, các doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam cần nâng cao năng lực cạnh tranh, trước hết bằng việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hiện có để quản trị tốt, hiệu quả quá trình sản xuất –kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời Nhà nước cần sớm xác định và công bố  định hướng chiến lược cũng như quy hoạch thu hút FDI trong giai đoạn tới, để  quá trình thu hút FDI đảm bảo được sự cân đối hài hòa giữa nguồn lực trong nước và nguồn lực nước ngoài trong phát triển KT-XH của đất nước giai đoạn tới.
- Vốn FDI vào Việt Nam ổn định khoảng 10-11 tỉ đô la/năm trong suốt giai đoạn 5 năm qua. Có nghĩa là tỷ trọng vốn FDI trong nền kinh tế lại giảm xuống. Ông có lo ngại xu thế này?
- Vốn FDI thực hiện bắt đầu vượt ngưỡng 10 tỉ đô la/năm, đạt 11,5 tỉ đô la vào năm 2008 (trước đây là 4,1 tỉ đô la năm 2006, trên 8 tỉ đô la năm 2007) và dao động 10-11 tỉ đô la cho đến năm 2011.
7 tháng đầu năm 2013 đạt 6,6 tỉ đô la, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2012.
Như trên cũng đã nêu, mặc dù vốn FDI tăng nhanh qua các thời kỳ, nhưng tỷ lệ của nó trong tổng vốn đầu tư xã hội lại giảm, cụ thể: từ 20,6 tỉ đô la chiếm 24,3% tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 1991-2000, lên 69,4 tỉ đô la, nhưng tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư xã hội lại giảm xuống còn 22,7% giai đoạn 2001-2011- điều này là tốt, cho thấy sự lớn mạnh của các thành phần kinh tế khác như các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân,.... đã đóng góp được nhiều hơn cho đầu tư và phát triển.
Việc tăng được giá trị vốn thực hiện của tổng vốn đầu tư xã hội, trong đó có nguồn vốn FDI ( mà cụ thể là để vốn FDI thực hiên vượt đáy (mức trên 10 tỉ đô la/năm trong 5 năm vừa qua), còn phụ thuộc và khả năng hấp thụ của nền kinh tế và sự năng động của nó, trong đó khả năng đáp ứng của cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và cải cách thủ tục hành chính chiếm vị trí quan trọng, cần được tập trung đầu tư và tiếp tục cải cách.


Nguồn gốc cà phê Việt Nam

Nguồn gốc cà phê Việt Nam

Cà phê có thể đã được các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan và Pháp mang hạt sang trồng lẻ tẻ từ các thế kỷ 17, 18 nhưng chính thức và quy mô thì phải đến khi người Pháp chiếm được Việt Nam từng phần và đặt nền bảo hộ lên toàn cõi (1884).Quý kim là thứ các nhà thám hiểm săn tìm. Nhưng đúng với cái tên “thực dân” (thực là trồng, nuôi), động cơ hàng đầu là tìm ra, thuần hóa và khai thác thứ có đời sống để có thể tăng gia theo cấp số nhân (các loại cây và con) - và những lợi ích kinh tế hầu như vô tận trong cuộc tranh đua thương mại và giành hoặc phá ưu thế độc quyền của các thế lực ngoại địch (như trà, đồ sứ của Trung Quốc; cà phê của khối Ả Rập,…).

Chỉ hai năm sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông là Biên Hòa, Gia Định (trong đó có Sài Gòn) và Mỹ Tho, người Pháp đã lập Thảo cầm viên ngay Sài Gòn để nghiên cứu và thử nghiệm quy mô việc khám phá về cây và con ở mảnh đất này.

Cho đến Cách mạng Pháp 1789, Pháp là nước sản xuất và tiêu thụ cà phê hàng đầu của thế giới, sản xuất chủ yếu ở thuộc địa là quần đảo Antilles ở biển Caribê như Guadeloupe và Martinique… Paris năm đó đã có trên 700 quán cà phê.

Cà phê được người Pháp đưa vào trồng ở Việt Nam chính thức từ năm 1857, từ đảo Martinique và vùng Guyane thuộc Pháp ở châu Mỹ Latin vì có khí hậu và thổ nhưỡng nhiệt đới tương tự Việt Nam. Đầu tiên, loại Arabica được thử ở phía Bắc rồi ở miền Trung (Quảng Trị, Bố Trạch,…), sau khi thu hoạch được chế biến dưới thương hiệu Arabica du Tonkin (cà phê Arabica Bắc Kỳ) và nhập khẩu về Pháp. Sở dĩ loại Arabica được thử nghiệm trước vì có giá trị hơn, nguyên gốc ở Ethiopia, thích hợp với vùng cao nguyên và vùng núi cao từ 800 - 2.000 m, và có nhiệt độ từ 18 - 23 độ bách phân.

Trong khi đó loại Robusta (Mạnh khỏe), giống từ rừng xích đạo châu Phi, có hàm lượng gấp hai lần giống Arabica và thích hợp với nhiệt độ từ 22 - 26 độ và cần lượng nước mưa từ 1,5m - 2m/năm. Đợt thí nghiệm này không thành công, một phần vì đất đai định cư lâu không thích hợp cho việc mở rộng các đồn điền công nghiệp hóa, một phần vì chính trị không ổn định do không có quy chế thuộc địa. Thói quen ở đây lại là văn hóa trà như Trung Quốc.

Từ năm 1925, sau những cuộc khảo sát quy mô kỹ lưỡng về khí hậu và thổ nhưỡng cũng như những suy tính về xã hội, chính trị, người Pháp đem cà phê trồng thử nghiệm ở vùng Tây nguyên, đặc biệt là cao nguyên Lang Biang (Lâm Đồng) và Đắk Lắk (Ban Mê Thuột), với đồn điền và chủ nhân là người Pháp, nhân công chủ yếu là người dân tộc. Ở Lang Biang thích hợp với giống Arabica hơn, còn ở Đắk Lắk là giống Robusta. Đến 2001, Việt Nam chính thức trở thành quốc gia xuất khẩu cà phê thứ hai trên thế giới, hằng năm thu về cho ngân sách quốc gia hơn một tỉ USD.

Từ đầu thế kỷ 20, cà phê là thức uống mới từ thị dân lan dần đến nông thôn. Tính chất cộng đồng và thân thiện của cà phê khiến người ta tỉnh táo, có thể làm việc lao động chân tay cũng như trí óc. Quán cà phê có thể thích nghi với cà phê filter (lọc) cho từng cá nhân, hoặc cà phê đem qua ấm lọc (percolateur) hay cà phê bít tất nhúng ngâm trong nước sôi để phục vụ cho nhiều người bằng lối pha sẵn với giá bình dân. Quán cà phê trở thành nơi giao lưu xã hội, vừa là trung tâm sinh hoạt, vừa là trung tâm thông tin, là môi trường giao dịch làm ăn thương mại thích hợp suốt cả ngày.

Trong giai đoạn chiến tranh 1960 - 1975, các quán cà phê với âm nhạc lãng mạn, trữ tình, có cả màu sắc bi thương như những nhạc khúc Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên,… đã trở thành văn hóa của cả một thế hệ trẻ trong cuộc chiến. Sau 1975, cà phê trở ngược ra Bắc, trở thành nét sinh hoạt toàn quốc với khung cảnh thơ mộng, thiên nhiên - đem lại sự tươi mát cho những thành thị ngày càng sôi nổi với nhịp sống thị trường toàn cầu hóa.

Văn hóa cà phê ấm cúng, lãng mạn, tĩnh lặng nơi người ta có thể thưởng thức âm nhạc, sách báo, tranh vẽ, mỹ thuật, hoặc tâm sự trao đổi về tri thức hoặc tình cảm. Vì thế, muốn biết một người, chỉ cần xem người đó giải trí thích thú nhất ở đâu…

P/S:
Chủ nghĩa thực dân là việc 1 quốc gia (mẫu quốc) tuyên bố chủ quyền với 1 quốc gia khác (thuộc địa). Thuộc địa chịu sự quản lý trực tiếp từ mẫu quốc về chính trị. Mẫu quốc bóc lột tài nguyên, sức lao động của thuộc địa.

"Đế quốc" xét 1 cách chung chung là 1 vương quốc rộng lớn, bao gồm nhiều sắc tộc khác nhau được trị vì bởi 1 nhà cai trị. Đế quốc được hình thành qua việc xâm chiếm các quốc gia và dân tộc lân cận. Ví dụ: Đế quốc La Mã, đế quốc Maccedonia, đế quốc Ai Cập cổ đại...

"Chủ nghĩa đế quốc" là 1 từ xuất hiện trong học thuyết của Mác. Từ này ám chỉ giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa tư bản, biến đổi từ tự do cạnh tranh sang hình thức tư bản độc quyền. Đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc là sự xuất hiện các tập đoàn tư bản độc quyền lũng đoạn nền kinh tế không chỉ ở trong 1 nước tư bản, mà lũng đoạn nền kinh tế các nước khác.

Theo nhiều cách hiểu khác mang tính chính trị, thì chủ nghĩa đế quốc còn được gọi là chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Trong hình thái này, "mẫu quốc" không cai quản trực tiếp "thuộc địa". Nước "thuộc địa" có chính phủ, quân đội, nền kinh tế riêng, nhưng phụ thuộc chặt chẽ vào "mẫu quốc".

BÀI TOÁN NAN GIẢI CHO KINH TẾ TRUNG HOA

BÀI TOÁN NAN GIẢI CHO KINH TẾ TRUNG HOA
 
 Trong Likonimics của ông Lý Khắc Cường gồm 3 mục tiêu - không kích thích kinh tế, giảm nợ và cải cách cơ cấu - vấn đề giảm nợ là vấn đề đau đầu nhất, khi mới đây Quỹ tiền tệ Quốc tế thông báo tính cả nợ công lẫn nợ tư trong nước của Trung Hoa đã lên đến 200% GDP. Một bài viết của tôi tháng trước, Likonomics là một phương án tiến thoái lưỡng nan.
 
Để thực hiện giảm nợ, và thay đổi cơ cấu kinh tế, mà đặc biệt là giải quyết 39 triệu căn hộ ma của hơn 170 thành phố trống rỗng mà chính phủ Hồ - Ôn để lại, chính phủ mới Tập - Lý đã đưa ra một dự án cho thiên niên kỷ đối với Trung Hoa. Đó là, dự án lùa 250 triệu nông dân vào thành thị trong 12 năm tới trong một bài viết của nhà báo Ian Johnson đã từng nhận giải Pulitzer 2001, một chuyên gia về Trung Hoa viết rất đầy đủ và cặn kẽ. Một dự án mà các nước phương Tây cho là nó tương đương với việc thành lập 26 thủ đô hiện đại nhất trên toàn thế giới. Một dự án vô tiền khoáng hậu của một siêu cường nửa vời, nhưng hung hăng.
 
Thực chất của siêu dự án này thì mong muốn của chính quyền Tập - Lý là đưa 70% dân số Trung Hoa - tương đương 900 triệu dân - trở thành những công dân thị thành vào năm 2025. Một con số khoảng 450 triệu nông dân trong một thập niên tới, phải rửa gót chân lấm bùn của mình để mang giày tây, đi trên thảm trải sàn nhà.
 
Theo ông Ian Johnson, đến giờ này các lãnh đạo mới của Trung Hoa vẫn trung thành với việc điều hành đất nước đông dân nhất thế giới bằng ý chí của họ, bỏ qua tất cả mọi luật lệ và quy luật bàn tay vô hình của kinh tế học và những quy luật triết học.
 
Bằng vào ý chí của mình, các lãnh đạo mới của Trung Hoa hy vọng rằng, bằng vào cách họ mua lại đất của nông dân, sau đó buộc nông dân phải từ bỏ mảnh vườn của mình sống lâu nay, để mua lại 39 triệu căn hộ ma mà chính quyền địa phương xây nên lâu nay chưa có chủ mua, do bất động sản bị đóng băng - với cái gọi là đô thị hóa nông thôn. Nó sẽ giải quyết được nợ xấu của các chính quyền địa phương và nợ xấu của các doanh nghiệp bất động sản trong nước.
 
Nhưng người dân Trung Hoa có nhiều nỗi lo sợ. Đầu tiên là nông dân có học thức, họ sợ rằng một thời kỳ dồn dân lập ấp vào hợp tác hóa như thời kỳ cải cách ruộng đất 1950, hòng để chính quyền dễ dàng kiểm soát người dân, khi mà có quá nhiều bất cập, và bạo động xã hội gần đây xảy ra ở khắp nơi. 
 
Cái sợ thứ hai là, sau khi tháo củi sổ lồng cho nông dân được quyền canh tác và sống trên thửa ruộng của mình, giờ đây chính quyền mới của Trung Hoa quay trở lại diệt hết những chủ đất nhỏ ở nông thôn.
 
Nhưng cái lo lắng nhất của nông dân là, bao nhiêu năm nay họ chỉ biết sống bằng đôi tay canh tác trên mãnh đất của mình. Nay với việc lùa dân vào thành thị, ở những căn hộ chung cư, họ sẽ làm gì để sống, sau một thời gian tiêu hết số tiền bán đất cho chính quyền?
 
Về mặt chính quyền, một con số dự trù phải chi cho việc an sinh xã hội mới trong 12 năm tới về y tế, học đường và công trình công cộng khoảng 600 tỷ đô la/năm cho 250 triệu dân đổi đời trở thành thị dân. Đó là chưa tính đến lương hưu và chi phí an sinh xã hội cho những người sẽ đến tuổi về hưu trong 12 năm tới. 
 
Nhưng, trong 2 năm nay hầu hết những nông dân sau khi đã di chuyển vào các chung cư gần đây, họ chẳng biết làm gì, ngoài việc mua sắm tiện nghi tiêu dùng như xe cộ, truyền hình để chơi game! Một số thanh niên nông thôn may mắn, sau khi dời vào những căn hộ chung cư để sống, họ kiếm được việc làm giản đơn ở các khu công nghiệp với đồng lương 150USD/tháng.
 
Song làm việc trong các khu công nghiệp lại đẻ ra một vấn đề khá nhức nhối khác là, các nhà máy lại ở xa những khu tái định cư. Hơn thế nữa, tuổi cho phép cho công nhân ở các khu công nghiệp chỉ dừng ở độ 45 - 50 tuổi. Thế thì, giai đoạn sau lứa tuổi này, họ phải làm gì để kiếm sống, trong khi chế độ an sinh xã hội Trung Hoa vẫn còn đi học và khám chữa bệnh phải trả tiền túi.
 
Một nông dân ở thành phố Ankang thuộc tỉnh Thiểm Tây đã từng làm công nhân khu chế suất, và là nạn nhân của việc di dân vào những khu chung cư - ông Shifang - nói, tôi năm nay 45 tuổi đã thất nghiệp, không còn bất kỳ nhà máy nào tuyển tôi lao động, không có lương hưu, không an sinh xã hội. Trong khi đó, nếu ở nông thôn như xưa kia, cha mẹ chúng tôi có thể nuôi con gà, con heo, trồng cây ăn trái kiếm sống đến tuổi 70!
 
Hậu quả là, một số người dân đã tự thiêu, hoặc chống lại chính quyền địa phương, chứ nhất định không di dời. Đây là một siêu dự án làm tổn thương đến nền văn hóa và nông dân, cũng như tình hình chính trị lớn nhất Trung Hoa hậu thời đại Đặng Tiểu Bình. Chính phủ mới đã dự trù cho một cuộc họp vào tháng 6/2013 vừa qua để bàn làm sao bảo vệ được quyền lợi của nông dân, nhưng vẫn giữ quyền sở hữu công về tư liệu sản xuất về đảng cầm quyền, nhưng buộc phải hoãn, vì chưa có bất kỳ một giải pháp khả dĩ nào cho vấn đề này!
 
Giống như Việt Nam, 80% dân số Trung Hoa làm nông nghiệp vào thập niên 1980. Sau 30 năm đổi mới theo nền kinh tề định hướng thị trường, đã có 47% dân Trung Hoa đang ở các đô thị, nhưng có đến 17% những người dân sống ở đô thị vẫn còn mang cốt cách của một nông dân. Đây là một vấn đề nan giải không chỉ đơn giản là việc lùa dân vào thành phố, thì người dân sẽ rũ bỏ cái tư duy và văn hóa sống nông thôn!
 
Trong một khảo sát năm 2008 tại nhiều vùng nông thôn Trung Hoa, có 29% nông dân cho rằng chính quyền địa phương đã cướp đất của họ. Nhưng, một khảo sát làm lại mới đây vào năm 2011, thì có đến 43% nông dân có quan điểm này. Theo giáo sư Li Dun của Đại học Bắc Kinh, lý do là chính quyền địa phương sử dụng xe ủi để phá nhà dân và buộc dân phải bán đất và di dời đến nơi mà chính quyền đã xây dựng.
 
Một số người hoài nghi cho rằng, hậu quả của siêu dự án này sẽ để lại hậu quả giống như Mễ Tây Cơ và Ba Tây trong tiến trình đô thị hóa để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng hậu quả là sinh ra những tầng lớp dưới đáy xã hội và những bất ổn xã hội vệ mặt trật tự trị an.
 
Một ý tưởng đã được đề ra gần đây là, chính quyền địa phương chia cổ đông các nhà máy ở khu công nghiệp cho nông dân khi mua đất và di dời chỗ ở của họ, nhằm tạo cho họ có thu nhập suốt đời. 
 
Nhưng điều này đã được thử nghiệm ở ngoại ô Thành Đô, song cuối cùng nông dân không được nhận gì sau khi mất đất.Cuối cùng, việc đấu tranh biểu tình của nông dân với chính quyền diễn ra hằng ngày. Một nơi khác ở phía Nam Thành Đô, thì nông dân được hưởng chế độ cổ tức hằng tháng. Ở đây nông dân đóng góp vào nhà máy cứ 2.000 Bảng Anh thì mỗi ngày được hưởng lợi nhuận 8 đô la.
 
Một nông dân, Huang Zifeng, 62 tuổi, ở làng Paomageng đã từ bỏ mảnh đất của mình để làm việc trên các đồn điền cho biết. "Đó là cách ổn định hơn so với việc canh tác trên mảnh đất nông nghiệp của riêng bạn".
 
Theo ông Xiang Songzuo, kinh tế trưởng của Ngân hàng Nông nghiệp Trung Hoa thì, đô thị hóa là con đường tạo ra giá trị cho nền kinh tế, và nó tạo dòng chảy tiền tệ lưu thông lớn để làm ra doanh thu.
 
Nếu điều này hiện thực thì chính quyền địa phương rất cần một nguồn tiền lớn để đầu tư các công trình. Cho nên mục đích đầu tiên là, không kích thích tăng trưởng của chính sách Lý Khắc Cường không thể hoàn thành. Theo ông Xiang Songzuo, gần đây chính phủ yêu cầu liệt kê tất cả các công ty cần tiền để hỗ trợ đầu tư. Lúc đó, lạm phát là vấn đề đau đầu cho chính quyền Tập - Lý.
 
Một thống kê cho thấy, đã có đến 53% nông dân bị chương trình đô thị hóa ở Trung Hoa thực hiện, nhưng chỉ mới có 35% dân số nhận được hộ khẩu và nơi cư trú. Một tiêu chuẩn tối thiểu để được quyền khám chữa bệnh và được đi học ở Trung Hoa. Song tất cả những yêu cầu tối thiểu đó đến nay chỉ thực hiện thông qua việc bán đất để trao đổi. Nó lại là vấn đề bế tắc cho những nông dân không có đất.
 
Dù sao thì theo Tom Miller, một tác giả của cuốn sách xuất bản gần đây -China's Urban Billion: Đô thị tỷ dân của Trung Hoa - kết luận rằng, đô thị hóa là phương pháp duy nhất để giải quyết tình trạng kinh tế và chính trị hiện nay của Trung Hoa. Nhưng vấn đề an sinh xã hội của ước mơ 70% dân chúng Trung Hoa được đổi đời thành dân thị tứ vẫn còn là vấn đề mà nhà nước Trung Hoa vẫn chưa có lời giải.
 
Asia Clinic, 18h25' ngày thứ Tư, 14/8/2013

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

Khủng Hoảng Trung Quốc

Khủng Hoảng Trung Quốc

Khủng Hoảng Trung Quốc
Tác giả: Hùng Tâm/NV
Vì sao bị khủng hoảng và tại sao thiên hạ không thấy?
Sau nhiều tháng phân vân, hầu hết giới bình luận kinh tế đều đã có chung một nhận định. Rằng kinh tế Trung Quốc sẽ đối mặt với một vụ khủng hoảng tài chánh tương tự như Nhật Bản năm 1989-90, Nam Hàn năm 1997-98, hay Hoa Kỳ năm 2008-09. Và sau đó sẽ là một vụ khủng hoảng kinh tế kéo dài trong nhiều năm, như Nhật Bản đã từng gặp từ 1991 đến nay. 
Với nhiều người theo dõi tình hình kinh tế và chính trị Trung Quốc từ lâu – phải hơn chục năm – chuyện khủng hoảng không là bất ngờ mà còn được tiên báo, nhưng ít được chú ý vì trái với nhận định của “dòng chính” (mainstream). Nhiều quỹ đầu tư, giáo sư kinh tế hay chuyên gia học giả không ngớt lời ngợi ca phép lạ kinh tế của Trung Quốc, với tốc độ tăng trưởng trên 10% một năm trong mấy chục năm liền và đã vượt qua sản lượng của Ðức, rồi Nhật. Từ đó, người ta dự báo Trung Quốc sẽ vượt Hoa Kỳ để có nền kinh tế đứng đầu thế giới trong thập niên này.

Bây giờ thì mọi chuyện đều đảo ngược. Theo sau các quỹ đầu tư bị lỗ vốn khi quá tin tưởng vào triển vọng kinh tế Trung Quốc, nhiều nhà bình luận đã bắt đầu xét lại… Tác giả xin nêu câu hỏi là “Tại sao ít ai nhìn ra chuyện này?”

MEA CULPA 2008-2012


Muốn có giải đáp, chúng ta hãy nhìn vào chuyện gần rồi mới tìm hiểu về chuyện xa.
Cuối năm 2007, kinh tế Hoa Kỳ bị suy trầm (recession) là khi đà tăng trưởng giảm sút trong hai quý liền. Nạn suy trầm xảy ra sau giai đoạn sung mãn của thị trường gia cư từ quãng 2002 đến 2006. Ðầu năm 2008, khủng hoảng tài chánh đã từ Âu Châu lan về Hoa Kỳ và bùng nổ với sự sụp đổ của các tổ hợp đầu tư Bear Sterns rồi Lehman Brothers, tập đoàn bảo hiểm AIG, v.v…

Từ đó, kinh tế thế giới bị “Tổng suy trầm” (Global Recession) trong hai năm liền.

Ðấy là lúc các chuyên gia, học giả, báo giới và chính khách nói đến một vụ Tổng khủng hoảng của Tư bản Chủ nghĩa, chẳng khác gì thời 1929-1933, và sự suy thoái (depression) của Hoa Kỳ sau khi đã chi tiêu và bành trướng quá mạnh. Nhận định ấy sai, nhưng không thuộc phạm trù về bài này.

Khi đó, truyền thông báo chí hùa theo sự lạc quan hồ hởi của các quỹ đầu tư mà nói về chương trình kích thích kinh tế vĩ đại của Trung Quốc, khởi sự từ tháng 11 năm 2008 và tiếp tục cho đến năm 2010 là khi kinh tế xứ này vượt qua Nhật Bản. Theo phản ứng bày đàn, như trong một vụ trứng cút tại Việt Nam, nhận định chung của nhiều người là “may quá còn có Trung Quốc!”
Nhờ ngân khoản kích cầu khổng lồ để bù vào sự suy trầm chung của Hoa Kỳ rồi Âu Châu, Trung Quốc vẫn duy trì được sức tăng trưởng cao. Chẳng những không hề sa sút mà còn có thể là một đầu máy cho kinh tế thế giới. Giai đoạn lạc quan ấy kéo dài cho đến đầu năm 2012, khi Trung Quốc lại chuẩn bị Ðại hội đảng Khóa 18 vào cuối năm với nhiều biện pháp kích thích nữa. Ðấy là lúc người ta nói đến trào lưu tất yếu là “Tàu sẽ vượt Mỹ”.

Nhiều người còn đề cao mô hình phát triển của Trung Quốc như giải pháp có giá trị hơn, nhờ sự can thiệp sáng suốt của một nhà nước anh minh, cũng tương tự như ông Obama của Mỹ! Ðến cuối năm 2012 thì người ta mới bàng hoàng nhận ra một sự thật khác là cổ phiếu Trung Quốc rớt như cục gạch và núi nợ ngân hàng cao chất đống bắt đầu rung chuyển….

Qua năm 2013 thì nhạc lắng mây chìm! Nhiều quỹ đầu tư thành thật khai báo với thân chủ rằng “lỗi tại tôi mọi đàng,” mea maxima culpa.

Sai ở đâu?


Ðây là những lý do đầu tiên và dễ thấy nhất của sự sai lầm vĩ đại của giai đoạn 2008-2012.Trên thế giới, người ta có 1) nền kinh tế đã phát triển (của khối công nghiệp hóa là Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản, cộng với một số quốc gia tiên tiến như Canada, Úc, Tân Tây Lan) và 2) các nền kinh tế đang phát triển. Trong nhóm đang phát triển hay đang lên (emerging), có Trung Quốc.

Quy luật vận hành của hai khối kinh tế đã và đang phát triển có khác biệt chứ không hoàn toàn giống nhau. Một khác biệt nữa là các nước công nghiệp hóa đều theo chế độ dân chủ và công khai hóa mọi vấn đề lẫn tranh luận về giải pháp. Họ tạo ra một hình ảnh hỗn loạn, bất nhất và thiếu ổn định. Nghĩa là sự bất trắc của chủ nghĩa tư bản!

Trong khối đang phát triển lại còn có hai loại quốc gia. Nhiều nước có tài nguyên thiên nhiên như nguyên nhiên vật liệu và nhiều nước có dân số đông đảo như nguồn lực chính của phát triển, là trường hợp Trung Quốc. Tuy nhiên, nét tương đồng của khối này là thông tin thiếu minh bạch, thị trường thăng giáng thất thường, quản trị kém về kinh doanh và quản lý kém về kinh tế. Vì vậy họ mới là “đang phát triển.”

Người ta đã chủ quan nhìn vào quy luật vận hành của các nước đã phát triển mà đánh giá các nền đang phát triển và vì vậy nhận định sai về những rủi ro khi đầu tư.

Các nước đã phát triển đều tiến lên trình độ trưởng thành với mức tăng trưởng thấp, nghĩa là doanh lợi đầu tư cũng thấp hơn các thị trường mới nổi, là nơi có thể kiếm lời rất nhanh và nhiều, mà cũng bị rủi ro lớn. Người ta đánh giá sai những rủi ro tại Trung Quốc, nên mới hồ hởi sảng.

Các quỹ đầu tư vào thị trường Hoa lục, hay “chuyên gia về Trung Quốc” còn tác động vào dư luận qua truyền thông báo chí để chỉ nhấn mạnh đến phần tích cực của Trung Quốc và càng làm dư luận nhìn sai sự thật.

Chuyện sai lầm này còn dễ xảy ra khi công chúng suy đoán rằng tương lai là một nối tiếp hay phóng dội của quá khứ. Vì kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng 10% một năm so với 2-3% – hay còn thấp hơn – của khối công nghiệp hóa, tương lai sẽ là một sự vượt bậc. Làm ăn tại các nước đã phát triển mà lời được 5% một năm thì khó, chứ tại Trung Quốc thì có thể lời gấp ba.

Hai sai lầm ấy – nhìn sai quy luật bất trắc của các nước đang phát triển và cả tin vào kết quả đã qua để dự báo tương lai – là lý do phổ biến nhất.

Lý do thứ ba thuộc một lãnh vực chuyên môn hơn. Kinh tế các nước đều phải có khả năng phát triển bình hòa tự nhiên chứ không thể mãi mãi trông cậy vào sự kích thích của nhà nước. Biện pháp kích thích là bất thường và hãn hữu khi sản xuất sút giảm, và phải chấm dứt để khỏi là liều thuốc đổ bệnh. Một thí dụ là kinh tế Hoa Kỳ được kích thích với ba đợt QE, là điều bất thường.

Khi tình hình đã khả quan hơn thì việc bơm tiền phải giảm dần và lượng tiền bơm ra sẽ phải được hút về. Tháng Sáu vừa qua, Chủ tịch Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ gọi việc điều chỉnh này là “taper,” vuốt lại biện pháp kích thích. Trong mấy ngày qua, khi giới chức ngân hàng dự trữ tại Dallas, Chicago rồi St. Louis, Cleveland nhận định là tháng Chín này thì có thể hãm đà bơm tiền, các thị trường cổ phiếu đều rớt giá vì sợ mất cơ hội kiếm lời. (Bài “Kinh tế cũng là Chính trị” của tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa có giải thích chuyện đó trên cột báo này vào Thứ Ba vừa qua).

Tại Trung Quốc, biện pháp kích thích bằng đầu tư và tín dụng của nhà nước còn cao gấp bội nếu so với Hoa Kỳ và khi khối tín dụng ấy vượt quá 220% Tổng Sản Lượng GDP trong có mấy năm thì người ta phải thấy là có sự gì đó rất bất thường. Vài con số sau đây có thể cho thấy sự bất thường đó:

Kinh tế Hoa Kỳ có sản lượng cỡ 16 ngàn tỷ đô la, biện pháp kích thích kiểu QE từ 2008 đến nay lên tới khoảng hơn hai ngàn 400 tỷ, đang được coi là quá lớn nên phải “vuốt lại.” Kinh tế Trung Quốc có sản lượng chừng tám ngàn tỷ mà lại được kích thích bằng tín dụng đến 23 ngàn tỷ đô la thì sẽ là liều thuốc đổ bệnh.

Nhưng vấn đề không chỉ là những nhận định sai lầm trong giai đoạn ngắn hạn từ sau vụ Tổng suy trầm. Nền kinh tế Trung Quốc có nhiều nhược điểm sâu xa hơn. Cho nên sau một vụ khủng hoảng tài chánh vì bơm tiền quá nhiều thì sẽ còn bị một vụ khủng hoảng kinh tế.

Chúng tôi xin liếc qua chuyện đó trong cơ cấu kinh tế Trung Quốc.

Nhược điểm căn bản và sâu xa


Sau khi Ðặng Tiểu Bình tiến hành cải cách từ đầu năm 2009, Trung Quốc chỉ áp dụng chiến lược phát triển của Nhật Bản, lấy đầu tư và xuất cảng làm lực đẩy. Kết quả ngoạn mục mà không là phép lạ là lực lượng lao động đã được giải phóng.Mấy trăm triệu dân được phép làm ăn mà không bị trưng thu hay cấm đoán như dưới thời Mao Trạch Ðông.

Nhưng kết quả cứ gọi là ngoạn mục ấy cũng là những thống kê không đáng tin, cao hơn thực tế, và lại che giấu những phí tổn phi kinh tế hay vô hình vì khó đếm: sự hủy hoại môi sinh. Giải quyết bài toán môi trường này sẽ là một nan đề của tình trạng “tăng trưởng thiếu phẩm chất.” Trung Quốc sẽ mất nhiều thế hệ cho bài toán này.

Hiện tượng tăng trưởng thiếu phẩm chất còn có một tai họa cụ thể và dễ thấy hơn: sự lãng phí trong đầu tư.

Nhiều dự án hay kế hoạch có giá trị kinh tế rất thấp vẫn cuốn hút tài nguyên của nhà nước, gây vấn đề cho môi sinh và thổi lên bong bóng đầu cơ. Chúng được duy trì vì đem lại lợi lộc cho các đảng viên cán bộ và tay chân thân tộc. Nghĩa là Trung Quốc đầu tư rất nhiều với kết quả rất thấp và gây lãng phí rất cao mà nhà nước vẫn cứ bơm tiền kích thích nên sẽ dẫn đến khủng hoảng tài chánh vì doanh nghiệp phá sản và ngân hàng vỡ nợ.

Một nhược điểm khác còn sâu xa hơn nữa, đó là địa dư hình thể cực kỳ bất lợi của Trung Quốc.

Khu vực duyên hải là nơi dễ sống và tạo lực đẩy cho xuất cảng nên thu hút đầu tư rất mạnh vì tương đối có hiệu năng đầu tư cao hơn. Khu vực nội địa, nơi sinh sống của 900 triệu người trên hai phần ba diện tích toàn quốc, mới là vùng lạc hậu.

Hiệu năng đầu tư ở nơi đây quá thấp và ít được chú ý nên đào sâu sự dị biệt và bất công. Chính quyền trung ương tại Bắc Kinh có thấy vấn đề và đã nhiều lần tìm cách điều chỉnh kể từ hai chục năm nay mà chưa thành công. Một trong nhiều nguyên do là sự cưỡng chống hay cản trở của các đảng bộ địa phương.

Trung ương không mạnh như người ta thường nghĩ và hệ thống chính trị Trung Quốc không khắc phục được bài toán này của thiên nhiên và địa dư hình thể.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng thiếu rất nhiều tài nguyên. Loại chiến lược là năng lượng hay cả thực phẩm thì vẫn phải nhập cảng. Loại sinh tử vì không có thì chết, là nước ngọt, lại còn khan hiếm hơn. Lãnh đạo xứ này đã lạm thác rặng Hy Mã Lạp Sơn và thượng nguồn của các dòng sông lớn để tìm ra nước mà không xong. Họ đã lấy nước sông Trường giang (Dương Tử) để bổ sung cho Hoàng Hà và gây ô nhiễm nặng mà vẫn thiếu nước, trong khi 90% mạch nước ngọt đều bị nhiễm độc.

Sức mạnh sau cùng là dân số rất đông thì cũng bắt đầu có vấn đề sau ba chục năm kế hoạch hóa gia đình theo kiểu “mỗi hộ một con.” Dân số Trung Quốc hết tăng và sẽ giảm từ năm 2026 và tỷ lệ cao niên đang thành gánh nặng mà thành phần đang ở tuổi lao động sẽ phải cưu mang. Tức là Trung Quốc cũng bị hiện tượng lão hóa và không thể tăng trưởng mạnh như trước.

Sau cùng, khi nhược điểm của chiến lược tăng trưởng bằng đầu tư và xuất cảng đã tỏ lộ, lãnh đạo của họ phải tìm cách cân bằng lại lực đẩy, là nâng cao khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa.

Ðấy là trọng tâm của kế hoạch cải cách và chuyển hướng. Nhưng chưa chắc là họ sẽ thành công vì những nhược điểm tích lũy vừa nói ở trên, kể cả sự cản trở của các nhóm lợi ích ngay trên thượng tầng. Nếu như có thành công thì trong 10 năm tới, đà tăng trưởng sẽ sút giảm mạnh, ở dưới mức 5% một năm và có thể còn thấp hơn. Rủi ro xã hội và chính trị của mức tăng trưởng thấp có thể đe dọa sự tồn vong của chế độ.

Kết luận ở đây là gì?


Trung Quốc sẽ phải chuyển hướng và cải cách theo quy luật tự do hơn của tư bản chủ nghĩa thì mới thoát hiểm về kinh tế. Ðấy là chủ trương của thế hệ lãnh đạo mới. Nhưng khi ấy, đảng sẽ gặp mâu thuẫn về chính trị hay tư tưởng “Xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Quốc” của một đảng Cộng sản có còn giá trị gì không? Ðây là câu hỏi cho học giả hàn lâm! Một cách lạc quan thì thế giới có cả chục quốc gia đông dân khả dĩ bù đắp vào giai đoạn sa sút của Trung Quốc nên sẽ thu hút đầu tư và tìm ra cơ hội mới. 

Nhưng trong số này KHÔNG có Việt Nam vì lãnh đạo Hà Nội học đúng bài bản của Trung Quốc nên kinh tế đang bị khủng hoảng.

Và khi Trung Quốc có loạn, hoặc nếu Trung Quốc có loạn, Việt Nam sẽ bị hậu quả đầu tiên.

Các hoạt động kinh doanh

Các hoạt động kinh doanh
1. Hoạt động lập kế hoạch
Những hiểu biết sâu sắc về kế hoạch kinh doanh của công ty giúp ích nhiều đến phân tích về tình hình hiện tại và triển vọng tương lai của công ty, và là một phần của phân tích môi trường và chiến lược kinh doanh.
2. Hoạt động tài trợ
Có 2 nguồn tài trợ chính bên ngoài gồm NĐT vào VCP và các nhà đầu tư tín dụng. Quyết định về những vấn dề này sẽ xác định cấu trúc tổ chức của công ty, tác động đến sự tăng trưởng, ảnh hưởng đến mức độ nhạy cảm của công ty đối với rủi ro, và xác định tác động của sức mạnh của những người bên ngoài công ty tác động đến các quyết định kinh doanh.
3. Hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư là nói đến việc mua sắm và duy trì các dự án đầu tư nhằm mục đích bán sản phẩm và cung cấp dịch vụ, và cho mục đích đầu tư tiền mặt dư thừa. Đầu tư vào đất đai, nhà xưởng, máy móc, quyền pháp lý (sáng chế, tác giả, nhượng quyền...), hàng tồn kho, nguồn nhân lực (nhà quản trị và nhân công), hệ thống thông tin, và các tài sản tương tự khác vì mục đích thực hiện hoạt động KD của cty. Các tài sản này dc là các tài sản hoạt động.
Ngoài ra các công ty thường đầu tư vào các ts tài chính như trái phiếu, cổ phiếu...
Quyết định đầu tư liên quan đến một vài nhân tố  như loại hình đầu tư (thâm dụng kỹ thuật, lao động), tổng vốn đầu tư, thời gian hoạt động, phân bổ tài sản, và các thỏa thuận hợp đồng (mua, cho thuê, và đi thuê).
4. Hoạt động kinh doanh
Liên quan đến ít nhất 5 thành phần là nghiên cứu và phát triển, thu mua, sản xuất, tiếp thị và quản lý. Một sự kết hợp đúng đắn các thành phần của hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào loại hình kinh doanh, kế hoạch kinh doanh, thị trường đầu vào và đầu ra. Các nhà quản lý sẽ quyết định kết hợp nào có hiệu quả nhất cho lợi thế cạnh tranh của cty.

Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013

Bản Đồ Kinh Tế

Bản Đồ Kinh Tế

Nguyễn Xuân Nghĩa  - 
Xác định mục tiêu và tọa độ trong một năm bầu cử tại Hoa Kỳ…

Hoa Kỳ đang gặp khó khăn kinh tế chưa từng thấy kể từ Thế chiến II, thậm chí kể từ vụ Tổng khủng hoảng 1929-1933, một trong những nguyên nhân dẫn tới đại chiến. Nguyên nhân chính, lâu dài và trầm trọng nhất là tình trạng nợ nần chồng chất, lưu cữu, tích lũy từ nhiều thập niên. Nợ nần của khu vực tư nhân, của người dân và các doanh nghiệp từ sản xuất đến tài chánh, là phần quan trọng nhất.
Cái “nhân” đó đã gặp cái “duyên” là vụ bể bóng đầu tư trên thị trường gia cư địa ốc khởi sự từ 2006 và dẫn đến khủng hoảng tài chánh năm 2008, ngay trong một năm có tổng tuyển cử mà then chốt là cuộc tranh cử Tổng thống.
Nạn suy trầm kinh tế – chu kỳ kinh doanh bình thường cứ sáu bảy năm lại xảy ra một lần và kéo dài trung bình chừng hai năm – bắt đầu vào Tháng 12 năm 2007 khiến người ta gặp một vụ khủng hoảng tài chánh 2008 ngay giữa suy trầm và trong một năm bầu cử. Thế rồi, nạn suy trầm đã chính thức kết thúc vào Tháng Bảy 2009 mà sinh hoạt kinh tế vẫn èo uột, thất nghiệp không giảm mà còn tăng.

Năm 2008, ngay giữa những tai họa kinh tế tài chánh, lá phiếu của dân Mỹ đã đưa lên một chính quyền thiên tả, với đảng Dân Chủ kiểm soát cả Hành pháp và Lập pháp. Phương thức ứng phó rất đúng bài bản kinh tế của cánh tả là bơm tiền, tăng chi, thực tế là chuyển khối nợ vĩ đại của tư nhân về cho công quyền và đẩy mức công trái – nợ của khu vực công – lên mức kỷ lục….
Nhìn ra ngoài Hoa Kỳ, người ta cho rằng cả thế giới bị vạ lây và rơi vào tình trạng gọi là “Tổng suy trầm 2008-2009.” Nhưng người ta nhìn sai.
Những vấn đề gọi là nhân duyên kinh tế nói trên là hiện tượng chung của các nền kinh tế công nghiệp hoá, của cả ba khối kinh tế hàng đầu là Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản. Cái nhân vẫn là tình trạng vay mượn quá nhiều trong một giai đoạn quá lâu tại ngần ấy nước chứ không riêng gì tại Hoa Kỳ. Cái duyên chỉ là yếu tố thời cơ khiến thất quân bình chi thu đó bị lật vào thời điểm này.
Các nhà kinh tế có thể dự đoán rằng thất quân bình đó sẽ sụp đổ – nghiêng quá thì đổ – nhưng khó đoán ra cái duyên, vì bất cứ biến cố nhỏ nhoi nào cũng làm kiến trúc bất thường và bất ổn đó sẽ lật. Các nhà kinh tế càng khó dự đoán là làm sao Hoa Kỳ có thể tái lập sự quân bình đó vì đấy là quyết định chính trị, xuất phát từ chọn lựa của người dân khi họ đi bầu.
Nói trừu tượng thì Hoa Kỳ phải tái lập lại sự quân bình. Thực tế vẫn là phải trả nợ, tiết giảm chi thu để trả nợ và phải mất dăm bảy năm thì mới giải quyết một vấn đề tích lũy từ mấy chục năm. Nếu kinh tế có tăng trưởng, lợi tức khả quan hơn của mọi người sẽ giúp nhà nước tăng được nguồn thu thuế khoá và trang trải nợ nần hầu giảm bớt khoản tiền lời của việc vay mượn, v.v….
Khốn nỗi, Hoa Kỳ đang có tổng tuyển cử để bầu lại Tổng thống, toàn thể Hạ viện và một phần ba Thượng viện, mà chẳng ứng cử viên nào lại dại dột nói ra sự thật kinh tế là “chúng ta phải mất năm bảy năm thắt lưng buộc bụng để ra khỏi tình trạng khó khăn ngày nay”.
Họ không dám nói sự thật mà còn lừa mị người dân về những giải pháp nhẹ nhất phải gọi là đánh bùn sang ao, thực tế và phũ phàng hơn thì nên gọi là những liều thuốc đổ bệnh, hoặc giết con gà đẻ trứng vàng, khiến thời gian phục hồi không chỉ là năm bảy năm mà còn kéo dài lâu hơn.
Có khi còn lâm vào đại khủng hoảng.
Trở lại chuyện bầu cử, bài diễn văn về Tình hình Liên bang hay dự thảo ngân sách mà Tổng thống Obama vừa đề nghị như một chương trình hành động của năm tranh cử thuộc vào loại đánh bùn sang ao. Còn giải pháp của bốn ứng cử viên Cộng Hoà lại là hiện tượng “mờ mờ nhân ảnh”. Họ chưa đi tới giai đoạn đề nghị mà còn đang đấu khẩu xem ai là người bảo thủ nhất. Quần chúng Cộng Hoà ở dưới thì ngơ ngác đổi ý mỗi nơi mỗi tuần tùy theo lịch trình tranh cử sơ bộ ở từng tiểu bang.
Trong hoàn cảnh đó, làm sao chúng ta biết được rằng Hoa Kỳ phải làm những gì trong mấy năm tới hầu ra khỏi vũng lầy hiện tại?
Người viết tin là trong dài hạn, Hoa Kỳ vẫn là siêu cường kinh tế và quân sự vì sức mạnh nội tại của xứ này. Nhưng trong trung hạn, nói theo kiểu kinh tế là từ hai đến năm năm, nước Mỹ phải uống liều thuốc đắng. Tức là lấy những quyết định đau lòng mà cần thiết, nó khác hẳn quyết định cần thiết của các chính khách là đắc cử.
Nói cách khác, ứng cử viên nào mà dám nói đến thuốc đắng thì đấy là người có thể thâu ngắn giai đoạn hồi phục và vẽ ra một lộ trình thực tế cho quốc dân.
Cho đến nay, ta chưa thấy xuất hiện những người như vậy! Mà lộ trình ấy là gì? Xin tạm phác họa ra tấm “bản đồ kinh tế” như sau….
***
Hãy lấy lại một công thức sơ đẳng và có giá trị toàn cầu vào mọi thời về sản lượng kinh tế một quốc gia trong một giai đoạn nhất định, gọi tắt là GDP, Tổng sản lượng Nội địa.
Nó là kết quả của tổng số Tiêu thụ của tư nhân và các doanh nghiệp, gọi chung là dân chúng (C), cộng với tổng số Đầu tư của các doanh nghiệp (I), cộng với số Chi tiêu của công quyền (G) và kết số của Ngoại thương, tức là Tổng số xuất cảng trừ nhập cảng (viết tắt là E).
GDP = C + I + G + E
Muốn có tăng trưởng kinh tế thì ngần ấy yếu tố C, I, G, E đều phải tăng.
Khi kinh tế bị suy trầm sau mấy chục năm vay mượn liên tục thì số tiêu thụ phải giảm. Đó là hiện tượng “bình thường” của tiến trình trả nợ. Khi thấy tiêu thụ giảm sút, nhà nước bèn tăng chi, tức là vì C xuống nên mới nâng G lên để giữ cho GDP khỏi sa sút.
Nhưng tăng chi như vậy chỉ là chuyển ngân, đánh bùn sang ao, chính khách thì lấy phiếu cử tri bằng hứa hẹn mà che giấu quần chúng về cái thực giá của việc tăng chi, là đi vay, mắc nợ và phải trả tiền lời. Đó là tấm bản đồ của 2009-2011, nó dẫn tới vách núi, bên bờ vực.
Một ngả đường thoát là nâng mức đầu tư của doanh nghiệp, tức là biến số I trong phương trình nít nôi ở trên.
Người ta nghiệm thấy, tại Hoa Kỳ và nhiều nước khác, doanh nghiệp loại nhỏ và vừa, mới thành lập trong vòng năm năm trở lại, là những cơ sở tạo ra nhiều việc làm nhất. Công ăn việc làm mới là động lực nâng cao sản xuất và căn bản thu thuế chi ngân sách. Nếu lực lượng lao động ấy lại có hiệu suất cao nhờ kiến thức và năng lực (kiến năng hay “know how”) thì kinh tế phát triển.
Vì vậy, con đường thoát hiểm then chốt là đầu tư. Nhưng cụ thể về tâm lý và lời lãi là khiến cho những người có tiền DÁM bỏ tiền ra đầu tư để lập ra cơ sở kinh doanh mới, tuyển thêm người lao động và nâng tổng sản lượng cho quốc dân.
Khốn nỗi, người đầu tư cũng là kẻ có tiền, thành phần đang bị dư luận đả kích và bị kiềm toả bởi đạo luật tăng cường kiểm soát tài chính Dodd-Frank. Họ đứng bên lề, hoặc ngồi trên két bạc mà không dám nhúc nhích. Thành phần này không chỉ có hơn một ngàn tỷ phú mà là mấy triệu người có tài sản thuộc loại triệu phú, là những doanh gia có thể lập ra tiểu doanh nghiệp cò con thu dụng chừng 100 nhân viên trở lại.
Bản đồ thoát hiểm vì vậy phải là trấn an và khuyến khích dân đầu tư. Nhưng nói như vậy là không “phải đạo” và mất phiếu của dân nghèo cùng các nghiệp đoàn.
Một chi tiết kinh tế khác cũng đáng chú ý là trên nguyên tắc, tổng số đầu tư phải bằng số tiết kiệm trong xã hội vì đầu tư chỉ là tiết kiệm việc tiêu thụ hầu dồn tiền cho một tương lai thịnh vượng hơn. Nếu thiếu thì phải nhập cảng tiết kiệm từ bên ngoài vào, tức là tiếp nhận đầu tư nước ngoài, kinh tế học gọi là bị thiếu hụt cán cân chi phó.
Khi thấy số tiêu thụ giảm nhà nước tăng chi để bù đắp mà đã bị bội chi quá nặng thì sẽ phải đi vay, tức là vọc tay vào nguồn tiết kiệm của tư nhân, là nguồn đầu tư của doanh giới. Đánh bùn sang ao chỉ là cái thói trì hoãn chiến, thu hút tiết kiệm qua vay mượn là giết luôn con gà đẻ trứng vàng vì thu hẹp sức đầu tư. Là chuyện đang xảy ra cho nước Mỹ.
Vì vậy, nâng cao đầu tư phải đi đôi cùng giải tỏa kiểm soát và thu hẹp bàn tay phúc lợi của nhà nước mà cũng có bàn tay thô bạo đang lấy tiền tiết kiệm của thị trường để mua phiếu!
Sau cùng, tấm bản đồ còn một mảng quan trọng là kết số ngoại thương: phải gia tăng xuất cảng và thu hẹp nhập cảng thì mới góp phần nâng được Tổng sản lượng. Hoa Kỳ thật sự sản suất ra hơn 88% của số tiêu thụ nội địa và chỉ nhập cảng gần 12% mà thôi. Chuyện thu vén chi tiêu tất nhiên sẽ gián tiếp giảm bớt số nhập, nhưng nâng số xuất cảng lại là chuyện khác vì tùy thuộc vào thị trường bên ngoài.
Nếu ráo riết tranh thủ cán cân xuất nhập cảng bằng biện pháp bảo hộ mậu dịch thì sẽ rơi vào tình trạng gọi là “làm các bạn hàng đều nghèo đi”, nôm na là dẫn nhau xuống hố. Đó cũng là một nguyên nhân khiến Tổng khủng hoảng kéo dài năm 1929…
Trong một bài rất cô đọng dưới hai ngàn chữ mà phải trình bày những chuyện chuyên môn rắc rối này thì quả là điều khổ tâm. Nhưng đấy là những chọn lựa còn khổ tâm hơn mà nước Mỹ không thể tránh khỏi.