Hiển thị các bài đăng có nhãn Lý thuyết tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lý thuyết tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018

Các chiến lược tài chính trong kinh doanh

1. Chiến lược tiết kiệm vốn lưu động
Đẩy mạnh vòng quay vốn luân chuyển trong khi doanh thu không thay đổi làm cho vốn luân chuyển giảm xuống hoặc đẩy mạnh vòng quay vốn luân chuyển để vốn luân chuyển không đổi trong khi doanh thu gia tăng làm tiết kiệm đồng vốn đầu tư vào tài sản lưu động (tài sản). Lúc đó hiệu suất tài sản sẽ cao hơn, giảm nợ vay nếu DN có vay nợ để bổ sung vốn lưu động.
Đẩy mạnh vòng quay vốn luân chuyển là nổ lực làm gia tăng vòng quay hàng tồn kho, khoản phải thu hay nói cách khác làm giảm số ngày tồn kho bình quân hoặc số ngày phải thu bình quân.
Một số giải pháp để đẩy mạnh vòng quay vốn luân chuyển:
- Kiểm soát nợ phải thu tránh để nợ quá hạn, nợ tồn đọng
- Chiết khấu thanh toán để giảm số ngày phải thu
- Tối ưu hóa hàng tồn kho
- Thương thuyết giãn nợ với nhà cung cấp.

2. Chiến lược khai dụng giá phí biên tế
Chiến lược này đơn giản là sử dụng mô hình lợi thế kinh tế theo quy mô. Một khi một DN nỗ lực đẩy mạnh hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thêm được một khối lượng sản phẩm nhất định mà không phải mua sắm thêm trang thiết bị, không phải bỏ tiền đầu tư mở rộng mặt bằng, không tuyển thêm nhân viên gián tiếp...thì giá phí biên tế bình quân đơn vị giảm xuống rất thấp. Một DN đạt được điều này thể hiện DN đã thành công chiến lược khai dụng giá phí biên tế.
3. Chiến lược tối đa hóa lợi nhuận
a. Ứng dụng việc nghiên cứu để xác định mối tương quan giữa giá cả và nhu cầu tiêu thụ của thị trường để xác định mức sản lượng đạt lợi nhuận tối ưu
Bằng cách khảo sát các mức giá bán ra tương ứng với sản lượng mà thị trường tiêu thụ ta sẽ tìm ra được mức giá bán có mức sản lượng đem lại lợi nhuận cao nhất.
b. Ứng dụng kỹ thuật quy hoạch tuyến tính (bằng công cụ Solver trong excel)

4. Chiến lược đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho DN
Vấn đề này liên quan đến đòn cân định phí tại DN. Cụ thể là việc đầu tư TSCĐ vào DN. Việc hoạch định đầu tư cần nhằm vào mức thị phần mà DN có thể chiếm lĩnh:
- Nếu thị phần về loại sản phẩm đó đang quá nhỏ hẹp thì chỉ nên đầu tư ở quy mô nhỏ: Máy móc thiết bị có công suất nhỏ, điểm hòa vốn thấp, đòn cân định phí thấp. Như vậy luôn có lời tuy mức lời không lớn.
- Ngược lại, thị phần mà DN chiếm lĩnh lớn và đang có chiều hướng gia tăng thì nên đầu tư quy mô lớn: MMTB hiện đại, tự động, công suất lớn, điểm hòa vốn cao và đòn cân định phí cũng cao nhưng DN đạt mức lợi nhuận lớn và có chiều hướng gia tăng nhanh lợi nhuận.
Tóm gọn, chiến lược đầu tư là dựa vào sản lượng tiêu thụ so với mức sản lượng hòa vốn. Nếu sản lượng thực tế ổn định cao hơn nhiều so với mức sản lượng hòa vốn thì ta nên tính đến phương án gia tăng đầu tư TSCĐ để lợi dụng đòn cân định phí (dùng doanh thu để bẩy EBIT) làm gia tăng lợi nhuận. Ngược lại, sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng hòa vốn thì ta nên tính đến phương án giảm thiểu định phí bằng cách chuyển định phí qua biến phí chẳng hạn để giảm lỗ.

5. Chiến lược sử dụng vốn hiệu quả
a. Vốn đầu tư vào TSCĐ
Cần nâng cao hiệu quả quản lý TSCĐ bằng cách:
- Tổ chức dây chuyền sản xuất hợp lý: Khai thác và nâng cao hiệu quả của MMTB, tận dụng hiệu quả mặt bằng sxkd, hợp lý hóa chi phí khấu hao trong giá thành sp.
- Thanh lý ngay những TS ko cần thiết để thu hồi vốn cố định dư thừa chuyển vào vốn lưu chuyển, bổ sung cho vào sxkd.
b. Nâng cao hiệu quả sử dụng TS lưu động
Nghĩa là tập trung vào nỗ lực tiết kiệm và tăng nhanh tốc độ lưu chuyển tài sản lưu động. Cụ thể:
- Xđ mức nhu cầu vốn chính xác cho từng kỳ hoạt động và kiểm soát tốt nhu cầu vốn đó. Tránh để thiếu vốn hoặc thừa vốn làm gia tăng chi phí, chậm tốc độ lưu chuyển vốn.
- Tổ chức tốt quá trình thu mua, dự trữ trên cơ sở cân đối giữa chi phí ứ đọng vốn và hạ giá thành do tăng giá.
- Tổ chức tốt quá trình lao động, tăng cường kỷ luật sản xuất và các quy định về kiểm tra chất lượng nhằm hạn chế sp lỗi.

6. Chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh theo phương thức hạ giá thành
Ta có: T = F + v.q
<=>    z= T/q = F/q+ v (z giá thành một đơn vị)
Vì thế để giảm giá thành 1 đơn vị (z) ta có 3 cách:
 - Giảm biến phí đơn vị
 - Giảm chi phí cố định
 - Tăng sản lượng tiêu thụ q.

7. Khi nào thì nên vay nợ và nên vay bao nhiêu
Ta có công thức:
ROE = Lợi nhuận sau thuế/Vốn CSH
         = (EBIT - lãi vay - thuế)/Vốn CSH
         = [(EBIT - lãi vay) - (EBIT - lãi vay) * thuế suất]/Vốn CSH
         = (EBIT - lãi vay)(1 - thuế suất)/Vốn CSH
         = [(ROA* Tài sản - Lãi suất * Vốn vay) * (1 - thuế suất)]/Vốn CSH
         = (1 - thuế suất) * {[(ROA * (Vốn CSH + Vốn vay) - (Lãi suất * Vốn vay)]/Vốn CSH}
         = (1 - thuế suất) * [( ROA*Vốn CSH + ROA*Vốn vay - Lãi suất*Vốn vay)/Vốn CSH]
ROE = (1 - thuế suất) * [ROA + Vốn vay*(ROA - Lãi suất)/Vốn CSH]   (1)

Từ công thức trên ta có các trường hợp sau:
- Nếu DN ko vay vốn thì ROE sẽ bằng (1 - thuế suất) nhân cho ROA
- Nếu ROA cao hơn lãi suất thì ROE sẽ lớn hơn so với (1 - thuế suất) nhân cho ROA; mức độ nhiều hơn này sẽ càng lớn nếu tỷ số vốn vay/vốn CSH càng cao.
Kết quả này có lý: Nếu ROA cao hơn lãi suất vay mượn, DN kiếm được lợi nhuận nhiều hơn so với mức phải trả cho các chủ nợ. Thu nhập thặng dư sẽ dành cho các chủ sở hữu của DN, các cổ đông, làm tăng ROE.
- Nếu ROA thấp hơn lãi suất thì ROE sẽ giảm; mức giảm này phụ thuộc vào tỷ số vốn vay/vốn CSH.

Tăng vốn vay chỉ tạo ra sự đóng góp tích cực cho ROE nếu ROA của DN cao hơn lãi suất vay vốn. Lưu ý rằng đòn bẩy tài chính làm tăng rủi ro của tỷ suất sinh lợi của vốn chủ. ROE của DN có vay nợ cao sẽ thấp hơn so với DN có vay nợ thấp hơn trong những năm xấu. Trái lại, những năm tốt thì DN có vay nợ cao hơn sẽ cho kết quả ROE cao hơn. Sự hiện diện của vốn vay sẽ làm cho ROE của DN có vay nợ cao hơn trở nên nhạy cảm hơn với chu kỳ kinh tế. Cho dù hai DN có rủi ro kinh doanh là như nhau (phản ánh qua EBIT hệt như nhau trong 2 trường hợp), các cổ đông của DN có vay nợ cao hơn sẽ có rủi ro tài chính cao hơn so với DN có vay nợ thấp hơn vì toàn bộ rủi ro kinh doanh của DN được được hấp thụ bởi một cơ sở nhà đầu tư vốn chủ sở hữu ít hơn.
  Ngay cả nếu đòn bẩy làm tăng ROE kỳ vọng của DN vay nợ cao so với DN có vay nợ thấp, điều này không có nghĩa là giá cổ phần của DN có vay nợ cao hơn sẽ cao hơn. Chắc chắn, đòn bẩy tài chính làm tăng rủi ro vốn sở hữu của DN cũng giống như làm tăng ROE kỳ vọng và suất chiết khấu cao hơn sẽ bù trừ cho thu nhập kỳ vọng cao hơn.

8. Chiến lược định giá sản phẩm
a. Chiến lược định giá hướng vào doanh nghiệp
Là trường hợp DN xác định mức lợi nhuận cần đạt trên mức vốn kinh doanh hay các chi phí phải bỏ ra. DN cần lập bảng phân tích về giá sản phẩm, theo đó đưa ra mức lợi nhuận dự kiến => tương ứng với mức chi phí thực tế và dự kiến sản phẩm sẽ sản xuất từ đó tính được mức giá bán đơn vị sản phẩm cần thiết.

b. Chiến lược định giá hướng ra thị trường
Thực hiện chiến lược này DN cần tổ chức việc nghiên cứu phân tích để thăm dò thị trường, xác định các tương quan về giá cả và nhu cầu thị trường. Trên cơ sở các mức giá đưa ra ta tính được chi phí đi kèm và lợi nhuận cuối cùng. Mức giá lựa chọn sẽ là mức giá cho mức lợi nhuận cao nhất.

9. Dự báo nhu cầu vốn qua bảng CĐKT
Ta xác định các khoản mục thay đổi ở Tài sản và Nguồn vốn rồi dựa trên cơ sở Tài sản = Nguồn vốn để tìm nhu cầu vốn tín dụng cần thiết cho kỳ kế hoạch.
Chú ý: Ngoài các khoản mục TSCĐ thì thường các mục TS lưu động thường sẽ biến động theo doanh thu.

10. Chiến lược dùng chính sách tín dụng để tăng trưởng doanh số
Một DN có thể dùng chiến lược giá bán thấp để chiếm lĩnh thị phần của đổi thủ trong kinh doanh nhưng DN cũng có thể sử dụng chính sách tín dụng (chính sách tài chính) để tăng trưởng doanh số. Bằng cách gia tăng số ngày phải thu, DN đã tài trợ vốn lưu động cho khách hàng của mình để có thể chiếm lấy thị phần của đối thủ.
11. Chiến lược nguồn vốn
Để 1 DN kinh doanh cần phải có tài sản để hoạt động. Và người ta chia tài sản thành 2 loại tài sản ngắn hạn (lưu động) và tài sản dài hạn (TSCĐ, đầu tư tài chính dài hạn...). Tương ứng với tài sản như thế cần lựa chọn một loại nguồn vốn thích hợp. Về nguyên tắc nguồn vốn dài hạn (vay dài hạn, vốn CSH) được xem là nguồn để hình thành tài sản dài hạn nhưng đối với tài sản lưu động thì ta cần nguồn vốn gì là thích hợp?
Trong tài sản lưu động người ta chia thành 2 loại là tài sản lưu động thường xuyên và tài sản lưu động thời vụ. Vì tài sản lưu động thường xuyên mặc dù là tài sản ngắn hạn nhưng tài sản thường trực và ổn định, ko thay đổi nên bản chất nó dài hạn nên nguồn hình thành phải là nguồn vốn dài hạn.
3 chiến lược nguồn vốn:
* Nguồn vốn dài hạn = Tài sản dài hạn + TSLĐ thường xuyên + TSLĐ thời vụ
* Nguồn vốn dài hạn = Tài sản dài hạn + TSLĐ thường xuyên;
   Nguồn vốn ngắn hạn = TSLĐ thời vụ
* Nguồn vốn dài hạn = Tài sản dài hạn + một phần TSLĐ thường xuyên
   Nguồn vốn ngắn hạn = Một phần TSLĐ thường xuyên + TSLĐ thời vụ
(Nguồn vốn dài hạn có thể là vốn CSH hoặc vốn vay dài hạn)
Lựa chọn nguồn vốn nào là tùy thuộc vào khẩu vị của DN nhưng nguyên tắc nguồn vốn dài hạn càng nhiều thì áp lực trả nợ càng ít và sẽ có thời điểm bị dư thừa vốn -> chi phí vốn gia tăng -> giảm lợi nhuận.
Về nguồn vốn dài hạn DN có thể sử dụng vốn CSH hoặc vốn vay dài hạn. Lúc này vốn vay là bao nhiêu thì nó lại phụ thuộc vào ngành nghề mà DN kinh doanh và DN đang dứng ở chu kỳ kinh doanh nào. Sự đánh giá của nhà đầu tư vào cấu trúc vốn của DN thể hiện qua giá cổ phiếu là kết quả cuối cùng mà DN có được một cấu trúc vốn tối ưu nhất (chi phí vốn thấp nhất).

12. Chiến lược giảm thiểu rủi ro
a. Rủi ro thiên nhiên

b. Rủi ro do biến động về kinh tế (lạm phát, tỷ giá, lãi suất, giá cả...)
Ví dụ:Xăng dầu chiếm một vị trí rất quan trọng, đặc biệt trong các ngành sản xuất, kinh doanh
Trong hoạt động vận tải, chi phí cho xăng dầu chiếm đến 40%, sản xuất điện chiếm từ 22-25%...
Ở nhiều nước phát triển, với sự phát triển thị trường hàng hóa, người ta sử dụng những công cụ tài chính để phòng ngừa rủi ro giá biến động. Đó là các nghiệp vụ phòng vệ sử dụng các công cụ phái sinh. Gồm hợp đồng fowards, futures, swaps, options.
Quay lại trở lại VN, hiện nay giá xăng dầu vẫn chưa theo cơ chế thị trường (nhà nước vẫn kiểm soát giá) nên vẫn chưa có nghiệp vụ phòng vệ giá này.

c. Rủi ro liên quan đến yếu tố kỹ thuật



Thứ Bảy, 28 tháng 10, 2017

NOTE

NOTE

- Khi phân tích bảng cân đối kế toán, nhà quản trị tài chính cần nhận thức về ba vấn đề: tính thanh khoản, nợ so với vốn chủ sở hữu và giá trị thị trường so với giá trị sổ sách.
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

- Tỷ lệ tăng trưởng nội tại (the internal Growth Rate) là tỷ lệ tăng trưởng tối đa mà doanh nghiệp có thể đạt được khi không sử dụng bất kỳ nguồn tài trợ nào từ bên ngoài. Chúng ta sẽ gọi tỷ lệ này là tỷ lệ tăng trưởng nội tại bởi vì đây là tỷ lệ tăng trưởng mà doanh nghiệp có thể duy trì được chỉ bằng cách sử dụng nguồn tài trợ bên trong mà thôi. Tại 2 đường gia tăng nhu cầu tài sản và đường bổ sung lợi nhuận giữ lại thì tỷ lệ tăng trưởng nội tại được thể hiện ở điểm nơi hai đường cắt nhau. Tại điểm này, nhu cầu gia tăng tài sản cần thiết chính xác bằng lợi nhuận giữ lại tăng thêm.

Tỷ lệ tăng trưởng nội tại = (ROA x b)/(1-ROA x b)

(ROA được đo lường bằng lãi ròng (sau thuế) chi cho tổng tài sản)

- Tỷ lệ tăng trưởng ổn định (the sustainable Growth Rate): là tỷ lệ tăng trưởng tối đa mà một doanh nghiệp có thể đạt được mà không cần huy động thêm vốn cổ phần từ bên ngoài khi công ty phải duy trì tỷ số nợ trên vốn cổ phần không đổi. Tỷ lệ này được gọi như tế bởi vì nó là tỷ lệ tăng trưởng tối đa mà một doanh nghiệp có thể duy trì mà không làm tăng đòn bẩy tài chính chung của doanh nghiệp.

Tỷ lệ tăng trưởng ổn định = (ROE x b)/(1- ROE x b)

Khả năng tăng trưởng ổn định của một công ty phụ thuộc vào 4 nhân tố:
 + Biên lợi nhuận
 + Chính sách cổ tức
 + Chính sách tài chính
 + Vòng quay tổng tài sản

Tỷ lệ tăng trưởng ổn định là một con số rất hữu ích trong lập kế hoạch. Nó diễn giải mối quan hệ giữa 4 lĩnh vực quan tâm chính của công ty: hiệu quả hoạt động được đo lường bởi biên lợi nhuận, hiệu quả sử dụng tài sản được đo lường bằng vòng quay tổng tài sản, chính sách cổ tức được đo lường bởi tỷ lệ lợi nhuận giữ lại, và chính sách tài trợ được đo lường bởi tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu. 

Nếu một doanh nghiệp ko muốn bán cổ phần mới và cố định tất cả các nhân tố đầu vào bao gồm biên lợi nhuận, chính sách cổ tức, chính sách tài trợ và vòng quay tổng tài sản (hoặc mức độ thâm dụng vốn) thì chỉ có thể đạt được duy nhất có một mức tỷ lệ tăng trưởng.
Nếu doanh thu tăng trưởng ở tỷ lệ cao hơn tỷ lệ tăng tỷ lệ tăng trưởng ổn định, công ty phải tăng biên lợi nhuận , tăng vòng quay tổng tài sản, tăng đòn bẩy tài chính, tăng tỷ lệ lợi nhuận giữ lại, hoặc bán cổ phần mới.

* Chú ý: nếu lấy lợi nhuận mới chia cho VCSH đầu kỳ để ra ROE' thì tỷ lệ tăng trưởng ổn định = ROE x b.

Phần lớn các nhà quản trị tài chính đều hiểu một cách trực quan rằng làm ra tiền thì phải tốn tiền. Tăng trưởng doanh số nhanh đòi hỏi gia tăng tài sản ở dạng khoản phải thu, hàng tồn kho và nhà xưởng cố định, và tiếp theo đó là cần tiền để chi trả cho việc đầu tư vào những tài sản này. Họ cũng biết rằng nếu công ty của họ không có tiền khi cần, thì có thể hiểu theo nghĩa đen là "mục tiêu tăng trưởng sẽ không thực hiện được"
So sánh tỷ lệ tăng trưởng thực tế của công ty so với tỷ lệ tăng trưởng ổn định:
 Nếu thực tế > ổn định => cần huy động
 Nếu thực tế < ổn định => thừa tiền
Ngoài ra, cho ta thấy tại sao thiếu tiền và nhu cầu tiền là bao nhiêu.

Tính tỷ lệ tăng trưởng thực tế của doanh nghiệp. Tỷ lệ này đơn giản là sự gia tăng doanh thu trong một khoảng thời gian nhất định. Chia doanh thu tại thời điểm hiện tại cho doanh thu tại thời điểm khởi đầu. Bạn nên tính tỷ lệ tăng trưởng thực tế theo thời kỳ dùng để tính tỷ lệ tăng trưởng bền vững.
Tỷ lệ tăng trưởng thực tế sẽ thay đổi theo tháng, quý hoặc theo bất cứ khoảng thời gian nào bạn dùng để báo cáo kết quả tài chính. Vì tỷ lệ tăng trưởng thực tế chỉ là tỷ lệ thay đổi doanh thu nên chỉ số này sẽ biến động thường xuyên.
Khi tính tỷ lệ tăng trưởng thực tế, chú ý là số liệu doanh thu được tính theo khoảng thời gian bằng nhau. Nếu bạn so sánh doanh thu từ quý IV năm trước với tháng đầu tiên của năm sau, tỷ lệ tăng trưởng sẽ lớn hơn rất nhiều so với thực tế. Đảm bảo bạn so sánh các đại lượng bằng nhau, cụ thể là tuần với tuần, tháng với tháng, quý với quý, năm với năm, v.v...

So sánh tỷ lệ tăng trưởng thực tế với tỷ lệ tăng trưởng bền vững. Doanh nghiệp của bạn có thể tăng trưởng nhanh hơn, chậm hơn hoặc bằng với tỷ lệ bền vững. Mặc dù tăng trưởng nhanh có vẻ là chỉ số tích cực, nhưng tỷ lệ tăng trưởng vượt mức bền vững có nghĩa doanh nghiệp không có đủ tiền mặt để đáp ứng nhu cầu kinh doanh ở tốc độ doanh nghiệp đang phát triển. Nếu tỷ lệ tăng trưởng bền vững của bạn cao hơn tỷ suất sinh lời trên vốn sở hữu, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp của bạn hoạt động không như mong muốn.
Ví dụ, hãy hình dung một công ty xây dựng tạo ra những ngôi nhà. Để khởi nghiệp, chủ sở hữu đầu tư 100 tỷ đồng, và vay ngân hàng 100 tỷ. Sau một năm kinh doanh, chủ doanh nghiệp tính toán tỷ lệ tăng trưởng thực tế và tỷ lệ tăng trưởng bền vững, và thấy rằng tỷ lệ thực tế cao hơn nhiều so với tỷ lệ bền vững. Khi tăng doanh thu, anh ta cần thêm vốn để trang trải chi phí lao động và nguyên vật liệu để xây thêm nhà nhằm tăng thu nhập. Mặc dù tăng doanh thu tốt cho doanh nghiệp, nhưng chủ sở hữu không thể trang trải được hết chi phí nếu không đi vay. Hiểu được sự khác biệt giữa các tỷ lệ tăng trưởng, chủ doanh nghiệp có thể lên kế hoạch về việc vay vốn ở đâu hay liệu có nên làm chậm lại sự phát triển của công ty.
Tuy tỷ lệ tăng trưởng thực tế cao không phải lúc nào cũng có tính tiêu cực, song điều đó có nghĩa là doanh nghiệp cần trang trải cho chi phí vận hành tăng lên bằng cách phát hành thêm cổ phiếu, vay nợ mới, giảm cổ tức và tăng lợi nhuận cận biên. Hầu hết chủ doanh nghiệp mới thành lập không muốn vay thêm nợ hay phát hành thêm cổ phiếu trong những năm đầu, và muốn giảm tỷ lệ tăng trưởng ở mức bền vững.[3]
Tỷ lệ tăng trưởng thực tế thấp hơn mức tăng trưởng bền vững lại cho thấy doanh nghiệp của bạn không hoạt động tốt như mong muốn.[4]

Điều chỉnh việc kinh doanh. Sử dụng kiến thức bạn đã học về tỷ lệ tăng trưởng thực tế và bền vững để thay đổi kế hoạch kinh doanh. Nếu muốn duy trì tỷ lệ tăng trưởng cao hơn mức bền vững, bạn cần trang trải cho chi phí tăng lên trước khi thu lợi nhuận lớn hơn. Cân nhắc đi vay, phát hành thêm cổ phiếu, đầu tư vốn cá nhân hoặc giảm cổ tức. Nếu bạn không muốn làm những việc này, hãy giảm tỷ lệ tăng trưởng của công ty về mức bền vững và không cần tăng thêm vốn để trang trải chi phí.[5]
Nếu tỷ lệ tăng trưởng thực tế thấp hơn mức bền vững, bạn có nhiều tài sản hơn cần thiết. Nếu bạn không có kế hoạch mở rộng sản xuất, bạn nên trả nợ hoặc trả cổ tức cho cổ đông.

Giữ vững quan điểm. Hãy nhớ rằng các tỷ lệ tăng trưởng được tính toán dựa trên kết quả hoạt động trong quá khứ và không hoàn toàn dự báo được tương lai. Tỷ lệ tăng trưởng thực tế và bền vững sẽ không khớp với nhau một cách hoàn hảo, vì vậy, bạn nên sử dụng các tỷ lệ này như một công cụ định hướng việc ra quyết định kinh doanh, chứ không phải là căn cứ để làm trì hoãn việc ra quyết định hay hạn chế kinh doanh. Theo thời gian, tỷ lệ tăng trưởng bền vững sẽ có nhiều ý nghĩa hơn và doanh nghiệp của bạn cũng ngày càng có uy tín hơn. Trong năm đầu tiên hoạt động, tỷ lệ tăng trưởng thực tế và bền vững có thể dao động đáng kể, đó là điều bình thường.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

- Nếu giả định cấu trúc tài chính không đổi, khi doanh thu tăng x% thì tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn cũng gia tăng x%. Tại đây ta có thể tính ra tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn trên lý thuyết và so sánh với thực tế để xem việc đầu tư vào tài sản trong thực tế là có hiệu quả hay không? Nếu thực tế cao hơn so với lý thuyết => vốn đầu tư vào kinh doanh cao hơn so với tăng trưởng doanh số => lãng phí vốn => nếu vay nợ thì tốn thêm chi phí lãi vay => đầu tư vào tài sản không hiệu quả.
- Để đánh giá hiệu quả đầu tư tài sản ta có thể tính ROA của DN trước và sau khi đầu tư:
ROA=20% cho thấy 1 đồng vốn đầu tư vào tài sản tạo ra 0,2 đồng lợi nhuận. Nếu sau khi đầu tư tổng tài sản tăng lên (gồm tài sản ngắn hạn và dài hạn) ta sẽ tính ra được một tỷ số ROA mới. So sánh tỷ số ROA trước và sau khi đầu tư ta biết được hiệu quả đầu tư vào tài sản là tốt hay không?

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

Các hoạt động kinh doanh

Các hoạt động kinh doanh
1. Hoạt động lập kế hoạch
Những hiểu biết sâu sắc về kế hoạch kinh doanh của công ty giúp ích nhiều đến phân tích về tình hình hiện tại và triển vọng tương lai của công ty, và là một phần của phân tích môi trường và chiến lược kinh doanh.
2. Hoạt động tài trợ
Có 2 nguồn tài trợ chính bên ngoài gồm NĐT vào VCP và các nhà đầu tư tín dụng. Quyết định về những vấn dề này sẽ xác định cấu trúc tổ chức của công ty, tác động đến sự tăng trưởng, ảnh hưởng đến mức độ nhạy cảm của công ty đối với rủi ro, và xác định tác động của sức mạnh của những người bên ngoài công ty tác động đến các quyết định kinh doanh.
3. Hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư là nói đến việc mua sắm và duy trì các dự án đầu tư nhằm mục đích bán sản phẩm và cung cấp dịch vụ, và cho mục đích đầu tư tiền mặt dư thừa. Đầu tư vào đất đai, nhà xưởng, máy móc, quyền pháp lý (sáng chế, tác giả, nhượng quyền...), hàng tồn kho, nguồn nhân lực (nhà quản trị và nhân công), hệ thống thông tin, và các tài sản tương tự khác vì mục đích thực hiện hoạt động KD của cty. Các tài sản này dc là các tài sản hoạt động.
Ngoài ra các công ty thường đầu tư vào các ts tài chính như trái phiếu, cổ phiếu...
Quyết định đầu tư liên quan đến một vài nhân tố  như loại hình đầu tư (thâm dụng kỹ thuật, lao động), tổng vốn đầu tư, thời gian hoạt động, phân bổ tài sản, và các thỏa thuận hợp đồng (mua, cho thuê, và đi thuê).
4. Hoạt động kinh doanh
Liên quan đến ít nhất 5 thành phần là nghiên cứu và phát triển, thu mua, sản xuất, tiếp thị và quản lý. Một sự kết hợp đúng đắn các thành phần của hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào loại hình kinh doanh, kế hoạch kinh doanh, thị trường đầu vào và đầu ra. Các nhà quản lý sẽ quyết định kết hợp nào có hiệu quả nhất cho lợi thế cạnh tranh của cty.

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013

NEER và REER

Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
Là tỷ giá được sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên thị trường ngoại hối, nó chính là giá của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng.

  • Tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương là giá cả của một đồng tiền so với một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến chênh lệch lạm phát.
  • Tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER - Nominal Effective Exchange rate)
         NEER ko phải là tỷ giá, nó là một chỉ số được tính bằng cách chọn ra một số loại ngoại tệ đặc               trưng (rổ tiền tệ) và tính tỷ giá trung bình các tỷ giá danh nghĩa của các đồng tiền có tham gia vào           rổ tiền tệ với tỷ trọng tỷ giá tương ứng.

Tỷ giá hối đoái thực
Là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh bởi tương quan giá cả trong nước và ngoài nước. Khi tỷ giá danh nghĩa tăng hay giảm không nhất thiết phải đồng nghĩa với sự gia tăng hay giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế.

  • Tỷ giá thực song phương (RER) là tỷ giá danh nghĩa đã đc điều chỉnh theo mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước, nó là chỉ số thể hiện sức mua đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ. Vì thế có thể xem tỷ giá thực là thước đo sức cạnh tranh trong mậu dịch quốc tế của một quốc gia so với một quốc gia khác.
  • Mối quan hệ giữa tỷ giá thực và tỷ giá có ngang giá sức mua 
        Tỷ giá có ngang giá sức mua chính là tỷ giá thực (Er) có trị số bằng 1. Do tỷ giá danh nghĩa được giao dịch trên thị trường ngoại hối thường lệch khỏi ngang giá sức mua nên tỷ giá thực có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn 1. Lúc này đồng tiền có thể được định giá thấp hay cao so với ngang giá sức mua. Vì vậy, khi tỷ giá danh nghĩa tăng hay giảm không nhất thiết phải đồng nghĩa với sự gia tăng hay giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế, các nhà quản lý nghiên cứu và dự báo ngang giá sức mua để cố gắng kéo tỷ giá về vùng ngang giá sức mua nhằm đảm bảo tính cạnh tranh của nền kinh tế hay phục vụ cho các mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.
       Theo lý thuyết, ngang giá sức mua giữa hai đồng tiền chính là cơ sở để hình thành tỷ giá giao dịch trên thị trường. Do đó, dự báo ngang giá mua để điều chỉnh tỷ giá sao cho trong quan hệ mậu dịch quốc tế không có quốc gia nào bị thiệt khi có chênh lệch lạm phát giữa các quốc gia. Nếu có ngang giá sức mua, tỷ giá danh nghĩa của đồng tiền một nước so với tất cả các đồng tiền khác sẽ biến động ngang với chênh lệch lạm phát của nước đó so với lạm phát của nước khác.

  • Tỷ giá thực đa phương hay tỷ giá thực hiệu lực (REER)
      Tỷ giá thực song phương chỉ cho chúng ta biết được sự lên giá hay xuống giá của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ. Ngày nay, quan hệ thương mại là đa phương, một nước có quan hệ buôn bán với rất nhiều nước trên thế giới. Vấn đề được đặt ra là tại một thời điểm nhất định làm sao có thể biết được đồng nội tệ lên giá hay giảm giá so với đồng tiền của các quốc gia khác có quan hệ mậu dịch, hay nói cách khác là làm sao biết dc tương quan sức mua hàng hóa của đồng nội tệ so với các đồng ngoại tệ để làm cơ sở đánh giá tác động của tỷ giá đối với cán cân thương mại quốc gia? Để có cái nhìn toàn diện hơn về vị thế cạnh tranh của hàng hóa trong nước với các đối tác thương mại khác người ta dùng tỷ giá thực đa phương (tỷ giá trung bình)
     Tỷ giá thực đa phương là một chỉ số đc tính toán để định ra giá trị thực của đồng nội tệ so với các ngoại tệ (rổ ngoại tệ). Bằng cách điều chỉnh tỷ giá theo chênh lệch lạm phát quốc nội so với lạm phát của các đối tác thương mại, ta sẽ có tỷ giá thực song phương với từng đồng ngoại tệ. Sau đó xác định quyền số (mức độ ảnh hưởng đối với tỷ giá thực thông qua tỷ trọng thương mại của từng đối tác với quốc gia có đồng tiền tính REER).

Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2013

Phân tích chỉ số ROE, ROI, ROA

Phân tích chỉ số ROE, ROI, ROA

Chào mọi người. Qua quá trình tìm hiểu tôi nhận thấy những chỉ số ROE, ROI và ROA rất cần thiết cho 1 nhà đầu tư. Để hiểu thêm về hoạt động kinh doanh của 1 doanh nghiệp và có những bước đầu tư đúng đắn. Sau đâu tôi sẻ trình bày phần phân tích các chỉ số này mà trong quá trình tìm hiểu tôi đã sưu tầm và đúc kết. Mọi người xem xong rồi góp ý nhé.

Phần 1 Phân tích ROE và ROA

ROE: Tỷ suất thu nhập trên vốn chủ sở hữu (còn gọi là suất sinh lời của vốn chủ sở hữu)
ROA: Tỷ suất thu nhập trên tài sản (suất sinh lời của tài sản)
FL (Financial Leverage): Đòn bẩy tài chính
công thức để lý giải như sau:

(1) ROE = Lãi ròng / Vốn chủ sở hữu
(2) ROA = Lãi ròng / Tổng tài sản
(3) FL = 1 + (Nợ phải trả / Vốn chủ sở hữu)
Từ 3 công thức trên sau biến đổi (chỉ đơn thuần là toán học và kế toán)
còn lại công thức tính ROE như thế này:
ROE = ROA x FL tức là: ROE = (Lãi ròng / Tổng tài sản) x (1 + (Nợ phải trả / Vốn chủ sở hữu))

Ví dụ:
Có 2 công ty cùng kinh doanh Karaoke + dịch vụ vui vẻ, gọi tắt là A và B
- Công ty A có nợ phải trả là 5 tỷ và vốn chủ sở hữu là 20 tỷ; Công ty B có nợ phải trả là 15 tỷ và vốn chủ sở hữu là 10 tỷ.
- Lãi ròng thu được trong năm là: 10 tỷ đồng (A, B có lãi như nhau)
- Tổng tài sản là 25 tỷ đồng (A, B có tổng tài sản đưa vào kinh doanh như nhau)
Như vậy: ROA = Lãi ròng / Tổng tài sản = 10 tỷ / 25 tỷ = 40%
Nói cách khác là cứ 10 đồng tài sản sử dụng cho kinh doanh thì sẽ thu được 4 đồng lãi/năm (A và B sử dụng tài sản để kinh doanh tốt như nhau).

Vậy thì mua cổ phiếu của thằng nào đây? Lại phải so sánh ROE thôi các bạn nhỉ !
ROE = Lãi ròng / Vốn chủ sở hữu
- ROE (A) = 10 tỷ / 20 tỷ = 50%
- ROE (B) = 10 tỷ / 10 tỷ = 100%
A lãi 50% vốn, B lãi 100% vốn (ấn tượng quá, hơn cả chơi chứng khoán).
Với kết quả trên thì B ngon hơn A, vì: ROE (B) > ROE (A) mà.
tiếp nhé:
Vì ROA của 2 thằng là như nhau nên ta có: (xtôi lại công thức tính FL và quan hệ của ROE với ROA & FL ở trên)
ROE (A) = ROA x FL (A) = 40% x (1 + (5/20)) = 50%
ROE (B) = ROA x FL (B) = 40% x (1 + (15/10)) = 100%

Đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng lớn đến lãi; Vay nợ càng nhiều thì tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu càng cao
Thế nhưng các bạn nhớ cho:
1/. Trong trường hợp rủi ro công ty bị phá sản thì các chủ nợ sẽ được thu hồi vốn trước, các bạn là người bỏ vốn tham gia sở hữu công ty thì sẽ được chi trả sau cùng. Nếu đã bán hết tài sản mà cũng chỉ đủ trả nợ thì các bạn ... "móm".

2/. Trường hợp năm nay các chú dân quân ở phường kiểm tra dữ quá không làm ăn gì được, lãi ròng chỉ đủ trả lãi vay thì các bạn cũng ... "móm".

ROE và ROA mà cao thì càng tốt thôi nhưng thực ra các nước trên thế giới có nhiều kinh nghiệm cho rằng, hai thằng này cứ trên 20% là ngon rồi tất nhiên càng cáo càng tốt rồi. Nhưng có điều lãi cao tỉ thuận thuận phải rủi ro cao đấy các bạn phải lưu ý... nhưng cũng không sao tôi đã có cách trị thằng FL rồi; các bạn nhảy vào tìm thằng ROIC (ROI & ROTC là một) thì được ngay

Thực tế ROE và ROA trên 20% là có thể tạm chấp nhận và đầu tư được...nhưng các bạn phải quay ra tính thằng EPS (Lãi/số cổ phiếu) và PE (giá/cổ phiếu) cái. Các cụ nhiều kinh nghiệm cũng tuyên đoán PE tầm 20 là tạm ổn, đừng tham quá.

Ví dụ như sau: hoàn toàn có thể đối với thị trường Việt Nam.
Công ty X có vốn điều lệ là 20 tỷ (=2 triệu cổ phần với mệnh giá là 10.000 đồng/cổ phần).
Trong bản cáo bạch, công ty vẽ rất nhiều dự án và dự kiến năm tới sẽ đtôi lại tỷ suất lợi nhuận trên vốn điều lệ đến 60%. Dĩ nhiên để thực hiện các dự án tốt đẹp của mình, công ty không quên đưa ra lộ trình sẽ tăng vốn lên gấp đôi.

Chính vì tỷ suất lãi/vốn quá hấp dẫn (cộng với một số thông tin tốt khác) đã làm giá cổ phiếu của công ty tăng cao. Chỉ 3 tháng sau khi IPO, giá cổ phiếu của công ty X đã là 160.000 đồng/cổ phiếu.
Lúc này, công ty quyết định tăng vốn điều lệ lên gấp đôi với phương thức phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ 1:1 với giá phát hành là 130.000 đồng/cổ phiếu (thấp hơn giá đang giao dịch 30.000 đồng).
Giả sử việc phát hành thành công, công ty sẽ có 40 tỷ vốn điều lệ (=4 triệu cổ phần với mệnh giá 10.000 đồng) và có 240 tỷ thặng dư vốn =(130.000-10.000) x 2 triệu CP mới phát hành thêm.

Nếu mang 240 tỷ gửi ngân hàng 1 năm với lãi suất 10% thì sẽ thu được 24 tỷ. Chỉ cần 24 tỷ này chia cho 4 triệu cổ phần thì sẽ có EPS là 6.000 đồng. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn điều lệ là 60% (24 tỷ lãi/40 tỷ vốn điều lệ) đúng như cáo bạch đã đưa ra.

Do công ty phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu với giá 130.000 nên thị trường chỉ chấp nhận giá giao dịch khoảng 135.000 đồng, khi đó PE khoảng 22 (=135.000/6.000). Hấp dẫn quá nhỉ.
À thế còn cổ đông sáng lập làm thế nào lấy lại vốn.

Bán bớt cổ phần với lý do chi tiêu cá nhân hoặc góp vốn vào công ty con (tất nhiên là bán dần dần thôi để còn giữ giá chứ).
Nếu bán từ từ với giá 130.000 đồng/CP thì chỉ cần bán khoảng 55% số cổ phiếu đang nắm giữ thì sẽ thu hồi đủ vốn (10 tỷ ban đầu + 130 tỷ mua cổ phiếu phát hành thêm, giả sử cổ đông sáng lập sở hữu 50% vốn điều lệ).
Khổ quá ai là người mất tiền? tôi, các bạn và nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ khác đấy. Tất nhiên đây chỉ là ví dụ giả định nhưng có khả năng xảy ra rất cao.

Phần 2 Phân tích ROI

Đến ROI – Return On Investment (hay còn gọi là ROIC và ROTC) định nghĩa đơn giản thì nó là một công cụ tài chính để tính hiệu quả đầu tư. ROI sử dụng để so sánh hiệu quả đầu từ khi lựa chọn đầu tư. Như đã đề cập ở trên, khi đầu tư chỉ nhìn vào chỉ số ROE, ROA và thấy ROE cao là ok thì mức độ nguy hiểm sẽ cao.

Trường hợp này chỉ phù hợp với những nhà đầu tư thích mạo hiểm, còn những nhà đầu tu chiến lược thì phải có phương sách khác. Thực ra, bảo nhà đầu tư chiến lược sợ mạo hiểm thì cũng không phải nhưng họ biết cách phân bổ tỉ lệ rủi ro để đầu tư có thể 50/50 hoặc 40/60… tôi cũng xin đề cập thêm, có hơi nhắc lại nhưng các bạn cũng phải chú ý; một số nhà đầu tư nhỏ lẻ người Việt, ít chịu học hỏi, rồi đổ vạ cho muôn vàn lý do khác nhau...lại “chơi” theo kiểu tâm lý… “nước lên thuyền cũng lên rồi ngược lại”, chắc các bạn hiểu tại sao tôi không dùng “đầu tư” mà lại dùng “chơi’… trên đời chỉ có chơi sổ số, tổ tôm, ba cây, bạc…..mấy ai dùng “chơi” chứng khoán; thế có bằng đầu tư chứng khoán vơ thành trò “đỏ đen” cả lượt.

Nên các bạn có đầu tư không nên chỉ đánh giá chỉ số ROE và ROA….mà phải đánh giá được thành ROI (ROIC & ROTC), EPS, PE, EBIT, NIEAT, NET-DEBT…. nhiều lắm còn riêng thằng FL hay còn gọi NFL (Net Finacial Leverage – Cơ chế đòn bẩy tài chính) tôi biết cách khống trị rồi. Chỉ qua mắt mấy nhà đầu tư với vẩn thôi…thằng này tôi tính ROI là đi luôn…đặc biệt phải chú ý khi ta đạt bút tính ra kết quả ROE và ROA, rồi tính đến ROI sẽ cho ta một kết quả thực. Nhưng khi thay đổi tỉ lệ Net Debt (순재무부채) và FL thì hai thằng ROE và ROA sẽ thay đổi, riêng thằng ROI giữ nguyên
Xin giải thích thêm, khi phân tích doanh nghiệp nhà đầu tư sẽ rất dễ gặp nguy hiểm nếu như chỉ nhìn vào ROE không vì doanh nghiệp cũng như các nhà kinh tế có thể đánh lừa nhà đầu tư khi nâng tỉ lệ nợ phải trả “Net Debt” lên cao== đương nhiên thằng ROE sẽ kéo lên cao rồi…chết thì chết ai…chết anh tôi chúng ta thôi.. khi công ty phá sản tôi xét trả nợ sẽ ưu tiên mấy ông đấy trước….còn anh tôi ta “móm” ….

Nên rút ra một điều; lợi nhuận càng cao tỉ lệ thuận với mức độ nguy hiểm. Tôi nói thế chỉ là cảnh báo thôi…chứ có ai thích lợi nhuận thấp đâu. Tôi có mấy cậu bạn nó chẳng biết quái gì về ROE, ROA, ROI, EPS, PE….là gì mà nó vẫn thu tiền tỉ cổ phiếu và đi BMW …. suốt ngày chỉ đọc bào, uống café ngồi đầy vỉa hè nghe ngóng thông tin….

Trong phần trước tôi đã trình bày cơ bản chỉ số ROI và chưa nhấn mạnh FL, tôi xin phân tích, lấy ví dụ cho các bạn đọc và tham khảo.

Chắc các bạn thấy FL là công cụ rất mạnh để doanh nghiệp có thể “múa rìu qua mắt” tôi, các bạn và các nhà đầu tư khác.

Ý nghĩa của thằng FL (Financial Leverage) hay còn gọi NFL (Net Financial Leverage) là:
1- Đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả; hệ số sử dụng FL càng cao (Tức: Phần nợ> Vốn chủ sở hữu = Capital = Net Debt>Equity) thì càng làm tăng tỉ lệ sinh lời của vốn chủ sở hữu.
2- Ngược lại, khi doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, mọi rủi ro sẽ dồn hết cho những người chủ sở hữu vốn.

Các bạn nên chú ý điều này, ở trên tôi đã đề cập nhưng vẫn phải nhắc lại
1- Người cho vay sẽ thu được lãi vay định kì thưo tỉ lệ và thời gian ấn định trước. Phần chi phí cho lãi vay theo nguyên tắc kế toán sẽ được hạch toán vào chi phí hoạt động của DN trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Còn tôi, các bạn và các nhà bỏ vốn đầu tư khác, khi góp vốn vào công ty bằng mọi cách mua cổ phần thì chỉ được chia lãi từ phần lợi nhuận sau thuế và chưa biết là bao nhiêu.
2- Khi DN làm ăn thua lỗ dẫn tới phá sản, các chủ nợ được ưu tiên lấy lại tiền trước từ tài sản thanh lý, phần còn lại nếu mà còn mới tới lượt
Vậy chỉ tiêu nào có thể khắc phục được sự bóp méo ROE bàng FL ? thưa các bạn câu trả lời là có, đó là ROI (ROIC hoặc ROTC)…. Việt Nam mình gọi là lãi suất sinh lời từ tổng vốn đầu tư.

công thức tính như sau:

ROI = (Lãi ròng + Lãi vay sau thuế) / Tổng tài sản
Hoặc ROI = (Lãi ròng + Lãi vay x ( 1- Thuế suất)) / Tổng tài sản
Hoặc ROI = ((Lãi trước thuế + Lãi vay) x (1 – Thuế suất)) / Tổng tài sản

Trong đó phần EBIT (Lãi trước thuế + lãi vay) các bạn nên để ý một chút.
minh hoạ số liệu tính toán chỉ tiêu ROI

Khoản mục Tỷ đồng
Doanh thu thuần 500
Giá vốn hàng bán 380
Lãi gộp 120
Chi phí QL+BH (chưa tính lãi vay) 30
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế EBIT 90
Lãi vay (10% trên tổng nợ) I 12
Lợi nhuận trước thuế EBT 78
Thuế thu nhập doanh nghiệp (28%) T 22
Lãi ròng 56

Tổng tài sản 300
Tổng nợ 120
Vốn chủ sở hữu 180

Suất sinh lời của tài sản ROA 19%
Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu ROE 31%
Đòn bẩy tài chính FL 1.50
Suất sinh lời của tổng vốn đầu tư ROI 22%

Chú ý: Khi thay đổi cơ cấu nợ (đòn bẩy tài chính FL), 3 chỉ tiêu ROA, ROE và FL sẽ thay đổi còn ROI thì sao? không thay đổi gì hết. Nếu không tin, Các bạn cứ xem số liệu ở những chỗ tôi bôi màu đen nhé. Bảng dưới tôi đã cho thay đổi cơ cấu nợ/vốn so với bảng trên.

Khoản mục Tỷ đồng
Doanh thu thuần 500
Giá vốn hàng bán 380
Lãi gộp 120
Chi phí QL+BH (chưa tính lãi vay) 30
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế EBIT 90
Lãi vay (10% trên tổng nợ) I 20
Lợi nhuận trước thuế EBT 70
Thuế thu nhập doanh nghiệp (28%) T 20
Lãi ròng 50

Tổng tài sản 300
Tổng nợ 200
Vốn chủ sở hữu 100

Suất sinh lời của tài sản ROA 17%
Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu ROE 50%
Đòn bẩy tài chính FL 0.50
Suất sinh lời của tổng vốn đầu tư ROI 22%

Sưu Tầm

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

Đòn bẩy kinh doanh, tài chính

Đòn bẩy kinh doanh, đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy liên quan đến việc sử dụng các chi phí hoạt động cố định hay các chi phí tài chính cố định của một doanh nghiệp.
Rủi ro kinh doanh là tính khả biến hay không chắc chắn về EBIT của DN.
Rủi ro tài chính là tính khả biến tăng thêm của thu nhập mỗi cổ phần do việc sử dụng các nguồn vốn có chi phí tài chính cố định. Một phần của rủi ro tài chính là có hệ thống và phần còn lại là không hệ thống.

Độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh (DOL). Đòn bẩy kinh doanh liên quan đến việc sử dụng tài sản có các định phí. Một DN sử dụng đòn bẩy kinh doanh càng nhiều, EBIT sẽ càng nhạy cảm đối với các thay đổi trong doanh số. Độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh là tác động số nhân do việc DN sử dụng các chi phí hoạt động cố định. Theo định nghĩa DOL là phần trăm thay đổi trong EBIT bắt nguồn từ một phần trăm thay đổi trong doanh số cho sẵn. Như vậy, nếu một DN lệ thuộc vào tính biến động đáng kể trong doanh số theo chu kỳ kinh doanh, tính biến đổi EBIT (tức rủi ro kinh doanh) có thể cắt giảm được qua việc giới hạn sử dụng định phí đối với một số tài sản trong quy trình sản xuất. Tương tự, nếu doanh số của một DN có khuynh hướng ổn định theo chu kỳ kinh doanh, việc dùng một tỷ lệ phần trăm cao định phí đối với một số tài sản trong quy trình sản xuất sẽ có ít tác động đối với tính biến đổi của EBIT.

Rủi ro tài chính chỉ tính khả biến tăng thêm của thu nhập mỗi cổ phần và xác suất mất khả năng chi trả xảy ra khi một DN sử dụng các nguồn tài trợ có chi phí tài chính cố định, như nợ và cổ phần ưu đãi, trong cấu trúc vốn của mình. (Mất khả năng chi trả xảy ra khi một DN không thể đáp ứng các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng - như thanh toán lãi và vốn vay, thanh toán các khoản phải trả và nộp thuế thu nhập DN khi đáo hạn). Các chi phí sử dụng vốn như lãi vay và cổ tức ưu đãi tượng trưng cho các nghĩa vụ theo hợp đồng một DN phải đáp ứng bất kể về mức độ EBIT. Việc gia tăng sử dụng các số lượng nợ và cổ phần ưu đãi làm gia tăng các chi phí tài chính cố định của DN; đến lược mình. Các chi phí này lại làm tăng mức EBIT mà DN phải đạt được để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính và duy trì hoạt động. Lý do, một DN chấp nhận rủi ro của tài trợ có chi phí tài chính cố định là để tăng lợi nhuận có thể có cho các cổ đông.

Rủi ro của việc sử dụng đòn bẩy tài chính là nếu tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư thấp hơn chi phí sử dụng vốn vay thì đòn bẩy tải chính sẽ làm giảm tỷ suất sinh lợi mong đợi của các cổ đông.
Một số tài liệu cho rằng nếu mức lợi nhuận trên tổng tài sản của doanh nghiệp cao hơn mức lãi suất cho vay thì việc vay tiền đầu tư của DN là hiệu quả.
Tuy nhiên chú ý rằng nếu tính lợi nhuận trên tổng tài sản bằng công thức lãi ròng/Tổng TS mà ko điều chỉnh là không đúng. Mà theo đúng tinh thần tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư phải là (tỷ suất sinh lời trên TTS đã điều chỉnh) là ROI = [lãi ròng + lãi vay (1-thuế suất)]/Tổng TS

Tầm quan trọng của đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy làm phóng đại lỗ tiềm năng cũng như lãi tiềm năng cho các cổ đông.
Bất cứ khi nào một DN gánh chịu các chi phí hoạt động cố định hay chi phí tài chính cố định, DN này đc gọi là đang sử dụng đòn bẩy.
Đòn bẩy kinh doanh dùng chi phí hoạt động cố định làm điểm tựa. Khi một DN sử dụng các chi phí hoạt động cố định, một thay đổi trong doanh thu sẽ được phóng đại thành một thay đổi tương đối lớn hơn trong lãi  trước thuế và lãi vay (EBIT). Tác động số nhân này cảu việc sử dụng các chi phí hoạt động cố định được gọi là độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh.
Đòn bẩy tài chính dùng các chi phí tài chính cố định làm điểm tựa. Khi một DN sử dụng các chi phí tài chính cố định, một sự thay đổi trong EBIT đc phóng đại thành một thay đổi tương đối lớn hơn trong thu nhập mỗi cổ phần (EPS). Tác động số nhân này của việc sử dụng các chi phí tài chính cố định được gọi là độ nghiêng đòn bẩy tài chính.

Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013

Các suy luận từ phân tích dòng tiền

Suy luận từ phân tích dòng tiền bao gồm việc ban quản trị nhận nguồn lực từ đâu, công ty có thể giảm đầu tư ở đâu, tiền mặt nhận dc từ nguồn nào, các yêu sách đối với công ty được giảm thiểu ntn. Phân tích giúp chúng ta suy luận về quy mô, thành phần cấu tạo, mẫu hình và tính ổn định của dòng tiền hoạt động.

Dòng tiền đc sử dụng cho lao động, vật liệu và cho nhà quản lý. Chúng cũng đc sử dụng cho các tài sản dài hạn như nhà máy và thiết bị, là các tài sản mà giá trị chuyển dịch vòa sản phẩm với tốc độ chậm hơn. Rốt cuộc là tất cả tiền mặt tham gia tham gia vào quá trình bán hàng và được chuyển thành các khoản phải thu hoặc tiền mặt. Các hoạt dộng sinh lợi tọa ra dòng tiền cao hơn số tiền đầu tư, do đó làm gia tăng dòng tiền vào. Ngược lại, nếu dòng tiền thu đc thấp hơn số tiền đầu tư thì làm gia tăng dòng tiền ra.

Xem xét các thành phần của dòng tiền hoạt động. Thường là các đầu mối quan trọng về tính ổn định của dòng tiền. Ví dụ, khấu hao là một thành phần ổn định đại diện cho một "sự khôi phục" đầu tư vào TSCĐ từ doanh thu. Dòng tiền được tạo ra từ khấu hao thường được tái đầu tư để duy trì các tài sản hoạt động.

Suy luận từ phân tích dòng tiền bao gồm đánh giá chất lượng thu nhập. Một nhân tố trong chất lượng thu nhập là ảnh hưởng của các thay đổi trong điều kiện kinh doanh lên dòng tiền.

Khả năng tạo ra dòng tiền từ hoạt động kinh doanh là vấn đề là vấn đề sống còn của tình trạng tài chính. Không một công ty nào có thể tồn tại trong dài hạn mà không có dòng tiền từ hoạt động.

Trong khi cả công ty thành công và không thành công đều có các vấn đề khó khăn về dòng tiền hoạt động thì các lý do cho các khó khăn này lại rất khác nhau. Một cty thành công đang cần gia tăng đầu tư vào hàng tồn kho và các khoản phải thu để đáp ứng nhu cầu gia tăng của khách hàng, thường thấy cần huy động thêm nguồn tài trợ từ các nhà cung cấp nợ và vốn cổ phần để tạo ra tỷ suất sinh lợi tăng thêm. Khả năng sinh lợi này (thu nhập phát sinh dương) rốt cuộc sẽ tạo ra dòng tiền dương. Một công ty ko thành công sẽ trải qua thiếu hụt tiền mặt do sụt giảm số vòng quay hàng tồn kho và các khoản phải thu, bị lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc là kết hợp kết hợp cả hai yếu tố trên. Công ty không thành công có thể gia tăng dòng tiền bằng cách giảm bớt các khoản phải thu và hàng tồn kho, nhưng thường những giải pháp này sẽ giảm chi phí dịch vụ khách hàng, làm suy giảm lợi nhuận hơn nữa. Các nhân tố này là dấu hiệu của các cuộc khủng hoảng và thiếu hụt tiền mặt trong tương lai, bao gồm suy giảm trong tín dụng thương mại. Dòng tiền giảm sút đói với một cty ko thành công hoàn toàn tác động khác với một công ty thành công. Cho dù một nhà quản trị không thành công đi vay tiền, thì chi phí và kết quả của việc đi vay chỉ làm tăng khoản lỗ cuối cùng. Khả năng sinh lợi là biến số chủ yếu, không sinh lợi một công ty tất phải thất bại.

Thứ Hai, 17 tháng 6, 2013

Báo cáo thu nhập và dòng tiền có những ý nghĩa khác nhau nào về hoạt động kinh doanh?

Báo cáo thu nhập và dòng tiền có những ý nghĩa khác nhau nào về hoạt động kinh doanh?

Chức năng của báo cáo thu nhập là đo lường khả năng sinh lợi của công ty trong một thời kỳ. Báo cáo thu nhập ghi chép doanh thu khi kiếm được và chi phí khi xảy ra. Tuy nhiên một báo cáo thu nhập không cho ta thấy thời điểm dòng tiền vào và dòng tiền ra, cũng không cho thấy hiệu ứng của hoạt động kinh doanh lên tính thanh khoản của cty. Ngược lại, thông tin này là sẵn có trong báo cáo dòng tiền, trong đó tách biệt dòng tiền hoạt động, đẩu tư và tài trợ.

Kế toán phát sinh xác định thu nhập ròng dựa vào các giá trị ước tính, trả chậm, phân bổ và định giá. Đôi khi xem xét các nhân tố tạo nên thu nhập ròng lại chủ quan hơn là xem xét các nhân tố xác định dòng tiền. Vì lý do này, chúng ta thường liên kết dòng tiền từ hoạt động kinh doanh với thu nhập ròng trong khi đánh giá chất lượng của chúng. Một vài người đánh giá rằng thu nhập có chất lượng cao hơn khi có tỷ số dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trên thu nhập ròng lớn hơn. Điều này bắt nguồn từ thực tế có khả năng thu nhập ròng cao nhưng dòng tiền thấp. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh là công cụ kiểm soát hiệu quả thu nhập ròng, nhưng không thể thay thế cho thu nhập ròng. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh gồm cả một yếu tố tài trợ và hữu ích cho việc đánh giá và dự báo cho cả tính thanh khoản ngắn hạn lẫn khả năng trả nợ dài hạn.

Cả báo cáo dòng tiền và báo cáo thu nhập được thiết kế để thỏa mãn nhu cầu khác nhau của người sử dụng. Báo thu nhập sử dụng kế toán phát sinh để nhận nhiện doanh thu và chi phí xảy ra. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh ghi nhận doanh thu nhận được và chi phí đã thanh toán. Không thể đánh giá báo cáo nào là tốt hơn - vấn đề chỉ là nhu cầu phẩn tích của chúng ta mà thôi. Khi sử dụng các báo cáo này chúng ta cần phải ghi nhớ mục tiêu và giới hạn của chúng.

Tính thanh khoản


Để đo lường tính thanh khoản một cty. Ta dùng tỷ số thanh toán hiện hành, tỷ số thanh toán nhanh (Tiền mặt, đầu tư ngắn hạn và khoản phải thu).
Một số thông tin bổ sung để đánh giá khả năng thanh toán là khoảng thời gian cần thiết để chuyển đổi các khoản phải thu và hàng tồn kho thành tiền.

- Kỳ thu tiền bình quân = Khoản phải thu bình quân/(Doanh thu/360) = 68 ngày
- Số ngày tồn kho bình quân = Hàng tồn kho bình quân/(Giá vốn hàng bán/360) = 59 ngày

Hai con số này ngụ ý rằng một chu kỳ kinh doanh là 68+59=127 ngày. Nghĩa là công ty phải mất 127 ngày để hàng hóa nhập kho đến lúc bán thu tiền.

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

Các bộ phận của phân tích công ty

Các bộ phận của phân tích công ty

- Đánh giá triển vọng kinh doanh là mục tiêu của phân tích môi trường và chiến lược kinh doanh. Cụ thể là phân tích ngành và phân tích chiến lược (mềm)
- Phân tích báo cáo tài chính gồm các bước phân tích kế toán, phân tích tài chính và phân tích triển vọng
    + Phân tích kế toán là quá trình đánh giá mức độ hoạt động kế toán phản ánh tình trạng kinh tế của cty. Được thực hiện bằng cách xem xét giao dịch và sự kiện của một cty, đánh giá tác động của chính sách kế toán lên các báo cáo tài chính, và điều chỉnh các báo cáo để phản ánh tốt hơn các chi tiêu kinh tế.
    + Phân tích tài chính gồm phân tích khả năng sinh lời, ptich nguồn và sd nguồn, phân tích rủi ro

  • Phân tích khả năng sinh lợi là việc đánh giá tỷ suất sinh lợi trên đầu tư của một công ty.... Nó cũng bao gồm việc đánh giá hai nguồn khả năng sinh lợi chính - các tỷ lệ lợi nhuận (chênh lệch giữa doanh thu và chi phí) và vòng quay (việc sử dụng vốn).
  • Phân tích rủi ro là việc đánh giá khả năng cty có thể đáp ứng những cam kết của nó. Cụ thể đánh giá khả năng trả nợ và tính thanh khoản gắn với những biến đổi trong thu nhập.
  • Phân tích nguồn và sd nguồn là  việc đánh giá cty có được nguồn vốn cần thiết và sử dụng chúng ntn. Nó cung cấp những cái nhìn sâu sắc về việc tài trợ trong tương lai của cty.
    + Phân tích triển vọng là việc dự báo những thành quả tương lai - thông thường là thu nhập, dòng tiền hay cả hai.

Phân tích tín dụng và phân tích vốn cổ phần

Phân tích tín dụng
Nhà cung cấp tín dụng gồm 2 loại thương mại và phi thương mại. Lợi ích của người đi vay là giới hạn đối với các khoản nợ có lãi suất hay đối với việc bán hàng. Nhưng nhà cung cấp tín dụng là pahir chịu đựng rủi ro vở nợ.
Phân tích tính dụng là việc đánh giá độ tín nhiệm của công ty. Độ tín nhiệm (creditworthiness) là khả năng một cty đảm bảo cho các nghĩa vụ trả nợ. Một cách khác, nó là khả năng thanh toán của các hóa đơn của một cty. Do đó, nội dung chính của phân tích tín dụng là dựa trên rủi ro, chứ ko phải trên khả năng sinh lợi. Sự biến động trong lợi nhuận, đặc biệt sự nhạy cảm của lợi nhuận đối với sự giảm sút trong hoạt động kinh doanh lại quan trọng hơn mức lợi nhuận đạt được. Mức lợi nhuận chỉ quan trọng trong phạm vi nó phản ánh một cái biên an toàn cho một cty để đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ.
Phân tích tín dụng hướng vào rủi ro thấp thay vì tiềm năng cao. Bao gồm phân tích cả tính thanh khoản và khả năng chi trả. Tính thanh khoản của một công ty là khả năng huy động tiền mặt để đảm bảo các khoản thanh toán ngắn hạn. Tính thanh khoản phụ thuộc vòa dòng tiền công ty, tính chất của TS ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn. Khả năng chi trả (solvency) là khả năng đáp ứng các nghĩa vụ nợ dài hạn. Nó phụ thuộc vòa khả năng sinh lợi trong dài hạn và cấu trúc vốn (nguồn tài trợ) của công ty.
Các công cụ phân tích tín dụng và các tiêu chuẩn đánh giá thay đổi thoe kỳ hạn, loại tín dụng, và mục đích của các hợp đồng vay nợ.
Đối với tín dụng ngắn hạn, người cung cấp tín dụng quan tâm đến các điều kiện  tài chính hiện tại, dòng tiền, và tính thanh khoản của các TS ngắn hạn.
Đối với tín dụng dài hạn bao gồm việc định giá trái phiếu, các nhà cung cấp tín dụng đòi hỏi phải phân tích chi  tiết hơn và có tầm chiến lược dài hạn hơn. Phân tích tín dụng dài hạn bao gồm việc dự phóng dòng tiền và đán giá khả năng sinh lợi lâu dài (khả năng tạo ra thu nhập bền vững), Khả năng sinh lợi lâu dài là một nguồn chủ yếu bảo đảm cho khả năng thanh toán lãi và vốn gốc với các khoản nợ dài hạn.

Phân tích vốn cổ phần
Nhà đầu tư cổ phần cung cấp vốn cho công ty, ngược lại dc nhận đc quyền sở hữu và rủi ro của công ty. là người đầu tiên chịu những thiệt hại khi cty phá sản. Tuy nhiên một khi thành công thì cổ đông cũng nhận dc lợi tức tăng trưởng tiềm năng ko giới hạn. Vậy phân tích VCP là kết hợp cân đối đánh giá cả hai mặt rủi ro thấp và tiềm năng cao.

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012

TÀI KHOẢN LƯỠNG TÍNH - NÊN HIỂU VÀ SỬ DỤNG NHƯ THẾ NÀO?




Bất cứ giao dịch nào (Sự kịên có tính chất tài chính và được ghi nhận trên chứng từ) đều ảnh hưởng đến các Báo cáo kế toán. Việc lập Báo cáo kế toán sau mỗi giao dịch phát sinh là không thể và không cần thiết. Thay vào đó để theo dõi sự biến động thường xuyên, liên tục của các khoản mục trên các Báo cáo kế toán người ta sử dụng phương tiện gọi là Tài khoản.
Tài khoản là nơi lưu trữ cơ bản các dữ liệu của kế toán và được dùng để tập hợp số liệu của các nghiệp vụ cùng loại, nói cách khác ảnh hưởng của các nghiệp vụ phát sinh trong một kỳ kế toán phải được phân loại, lưu trữ thành các “bản riêng biệt” để cuối kỳ dùng làm căn cứ tổng hợp lập các báo cáo kế toán.
Việc phân loại tài khoản tuỳ thuộc vào việc sắp xếp, phân loại các chỉ tiêu trên các Báo cáo tài chính mà cụ thể là trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh, đồng thời phải đảm bảo sự thuận tiện cho việc ghi chép trên tài khoản kế toán.
                Ở hầu hết các nước theo cơ chế kinh tế thị trường, Nhà nước không ban hành một hệ thống tài khoản kế toán thống nhất áp dụng mang tính pháp qui. Thông thường các công ty dựa trên các chuẩn mực kế toán quốc gia và các chuẩn mực kế toán quốc tế để tự thiết lập cho mình một hệ thống tài khoản kế toán phù hợp với đặc điểm ngành nghề sản xuất kinh doanh và đáp ứng các yêu cầu thông tin quản lý của mình.
Việt Nam cũng đang hướng đến việc chuyển từ hệ thống tài khoản pháp qui sang hệ thống tài khoản mang tính hướng dẫn  (Ví dụ: trong qui định của Chế độ kế toán doanh nghiệp. các đơn vị kế toán được lựa chọn các tài khoản cấp 1 có tính pháp qui để hình thành nên hệ thống tài khoản khung cơ bản của doanh nghiệp mình, còn các tài khoản chi tiết cấp 2, cấp 3… là tự xây dựng theo nhu cầu quản lý và thông tin).
Trong tương lai không xa chế độ kế toán Việt nam sẽ tiến tới xoá bỏ hệ thống tài khoản pháp qui, mà chỉ đưa ra hệ thống  định nghĩa các khoản mục trong báo cáo kế toán, từ đó các thực thể kinh doanh tự tạo lập hệ thống tài khoản kế toán riêng. Muốn đạt được mục tiêu này thì ngay trong giai đoạn quá độ khi các đơn vị kế toán đang sử dụng các tài khoản theo qui định của chế độ kế toán hiện hành, người làm công tác kế toán cần nắm vững bản chất, nội dung, kết cấu và cách sử dụng các tài khoản để phát huy công dụng tài khoản trong việc ghi nhận các hoạt động kinh tế.
Trên phương diện nguyên lý kế toán, việc xây dựng và ghi nhận các giao dịch vào tài khoản dựa trên nguyên tắc về tính hai mặt của giao dịch. Mỗi sự kiện kinh tế đều có tính hai mặt: nỗ lực và phần thưởng, hy sinh và lợi ích, nguồn lực và tiêu dùng … việc ghi nhận vào tài khoản phải cho thấy 2 mặt đối lập đó. Một hình thức tài khoản được sử dụng rộng rãi có tên gọi là tài khoản chữ T vì nó có hình dạng giống chữ cái in T. Dạng thức tài khoản này cho thấy tính 2 mặt của giao dịch khi được phản ánh đồng thời tạo thuận tiện cho việc phân tích các nghiệp vụ kinh tế. Nói chung, một tài khoản sẽ có kết cấu như sau:
Tên tài khoản
(thường là tên khoản mục cụ thể trên báo cáo tài chính:
tài sản, nguồn vốn , chi phí hay doanh thu)
Bên Nợ (Debit) - Bên trái
Bên Có (Credit) - Bên phải

Dư Nợ : nếu Tổng số tiền bên Nợ > tổng số tiền bên Có



Hoặc Dư Có: nếu Tổng số tiền bên Nợ < tổng số tiền bên Có

Hoặc số dư bằng không nếu Tổng số tiền bên Nợ = tổng số tiền bên Có

                Như vậy, 1 tài khoản khi tính toán, tổng hợp tại 1 thời điểm (đầu kỳ hoặc cuối kỳ), nếu tồn tại số dư thì số dư chỉ có thể ở 1 bên, hoặc bên Nợ hoặc bên Có, số dư bằng không và không có số dư âm.
                Nếu căn cứ vào nội dung kinh tế của đối tượng kế toán phản ánh trên tài khoản, hệ thống tài khoản sẽ bao gồm các loại: tài khoản phản ánh vị thế tài chính (gồm tài khoản tài sản vẩn tài khoản nguồn vốn), tài khoản phản ánh sự thay đổi của vị thế tàichính (tài khoản phản ánh doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh). Tài khoản tài sản phản ánh các giao dịch tác động đến nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai  (tiền, vật tư, tài sản cố định …) và có kết cấu theo qui ước: Tăng – Nợ, Giảm – Có, Dư – Nợ. Tài khoản nguồn vốn phản ánh biến động của nguồn hình thành tài sản, do vậy sẽ có kết cấu ngược lại với tài khoản tài sản: Tăng – Có, Giảm – Nợ, Dư – Có. Qui định về kết cấu này căn cứ trên tính cân bằng của phương trình kế toán – tại một thời điểm Tổng Tài sản = Tổng nguồn vốn và qui tắc của ghi kép trên tài khoản nhằm phản ánh tính 2 mặt của giao dịch kinh tế . Căn cứ hướng tác động vào vốn chủ sở hữu mà có thể suy ra kết cấu của tài khoản doanh thu, chi phí, tài khoản doanh thu có kết cấu phù hợp với tài khoản vốn chủ sở hữu còn tài khoản chi phí có kết cấu ngược với tài khoản vốn chủ sở hữu. Tài khoản xác định kết quả kinh doanh là “công cụ” giúp so sánh giữa doanh thu và chi phí tương ứng nhằm xác định chênh lệch giữa doanh thu và chi phí cũng như ảnh hưởng của chênh lệch đó đến vốn chủ sở hữu. Các tài khoản này, tại thời điểm cuối kỳ do đặc điểm luôn luôn có số dư bằng không sau khi thực hiện các bút toán khoá sổ, nên qui định kế toán nhiều nước cho nhóm tài khoản này không có số dư . Trong Chế độ kế toán doanh nghiệp Việt nam hiện nay (theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp hoặc Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 ban hành Chế độ kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa) ngoài các tài khoản trên, còn có tài khoản lưỡng tính với tính chất và kết cấu đồng thời của cả 2 loại tài khoản tài sản và tài khoản nguồn vốn. Và mặc dù đã có hướng dẫn nhưng xung quanh việc hiểu và sử dụng tài khoản này như thế nào còn có nhiều tranh cãi giữa những người làm kế toán.
                Mang đặc trưng của cả tài khoản tài sản và tài khoản nguồn vốn, tài khoản lưỡng tính sẽ có dạng kết cấu như sau:
TK Tài sản


TK Nguồn vốn
Nợ
Có


Nợ
Có
Tài sản tăng
Tài sản giảm


Nguồn vốn giảm
Nguồn vốn tăng
Số dư:Tài sản hiện còn tại cuối kỳ




Số dư:Nguồn vốn hiện còn tại cuối kỳ








TK lưỡng tính




Nợ
Có




-Tài sản tăng
-Tài sản giảm




-Nguồn vốn giảm
Nguồn vốn tăng




Số dư: Tài sản hiện còn tại cuối kỳ
Số dư:Nguồn vốn hiện còn tại cuối kỳ



Điển hình về tài khoản lưỡng tính là các tài khoản công nợ, thể hiện quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với các đối tượng bên ngoài như: thanh toán với khách hàng: TK 131- Phải thu của khách hàng, thanh toán với người bán: TK 331- Phải trả cho người bán …  Công dụng của các tài khoản nhóm này giúp cho đơn vị  nắm được tình hình thanh toán công nợ và kiểm soát được việc thực hiện kỷ luật thanh toán nhằm hạn chế tình trạng chiếm dụng vốn hoặc bị chiếm dụng vốn một cách không hợp lý. Kết cấu chung của các tài khoản dạng này như sau:
-          Số dư đầu kỳ:
+ Bên Nợ: Số chênh lệch nợ phải thu lớn hơn nợ phải trả đầu kỳ
Hoặc + Bên Có: Số chênh lệch nợ phải trả lớn hơn nợ phải thu đầu kỳ
-          Số phát sinh trong kỳ:
+ Bên Nợ: gồm nợ phải thu tăng lên trong kỳ, nợ phải trả giảm đi trong kỳ
+ Bên Có: gồm nợ phải thu giảm đi trong kỳ, nợ phải trả tăng lên trong kỳ
-          Số dư cuối kỳ:
+ Bên Nợ: Số chênh lệch nợ phải thu lớn hơn nợ phải trả cuối kỳ
Hoặc + Bên Có: Số chênh lệch nợ phải trả lớn hơn nợ phải thu cuối kỳ
                Cách hướng dẫn về nội dụng, kết cấu và ghi chép đối với nhóm tài khoản này ở Chế độ kế toán hiện hành khiến nhiều người làm kế toán hiểu nhầm dẫn đến việc sử dụng tài khoản chưa đúng. Ví dụ như, với tài khoản 131- Phải thu của khách hàng, nhiều người làm kế toán lầm tưởng tài khoản này chỉ theo dõi nợ phải thu khách hàng (quan hệ chủ yếu trong thanh toán giữa doanh nghiệp với khách hàng) và số dư của tài khoản này chủ yếu ở bên Nợ phản ánh số còn phải thu khách hàng, hãn hữu mới có hiện tượng số dư bên Có thể hiện số tiền khách hàng đã ứng trước nhưng chưa lấy hàng hoặc chưa được sử dụng dịch vụ lao vụ của doanh nghiệp. Do đó trong cách hạch toán trên tài khoản tổng hợp 131- Phải thu của khách hàng, họ phản ánh trên Sổ Cái tài khoản này số dư  2 bên trong trường hợp tồn tại cả khách hàng thiếu nợ doanh nghiệp và cả khách hàng đã ứng trước tiền cho doanh nghiệp mà chưa lấy hàng; khi  lập Bảng Cân đối tài khoản số dư đầu kỳ hoặc cuối kỳ của tài khoản 131- Phải thu của khách hàng được phản ánh ở cả 2 cột Nợ và Có. Khi được hỏi cách tính ra số dư cuối kỳ để ghi vào Sổ Cái tài khoản này (Sổ tổng hợp) thì hầu hết kế toán viên sử dụng số liệu tổng cộng từ các Sổ chi tiết tài khoản 131- Phải thu của khách theo đối tượng khách hàng. Sau đó sử dụng luôn số liệu trên Bảng Cân đối tài khoản để vào Bảng Cân đối kế toán, số dư cột Nợ vào nội dung chỉ tiêu Phải thu khách hàng – Phần tài sản, và số dư cột Có vào nội dung chỉ tiêu Người mua trả tiền trước – Phần nguồn vốn. Cách làm này, thoạt nhìn thấy khá hợp lý và không vi phạm nguyên tắc bù trừ khi thiết lập các chỉ tiêu trên Bảng Cân đối kế toán. Tuy nhiên cách làm này sẽ vi phạm thủ tục kiểm tra đối chiếu việc ghi chép vào các tài khoản kế toán tổng hợp và tài khoản kế toán chi tiết. Sự vi phạm này được khắc phục nếu doanh nghiệp ứng dụng phần mềm kế toán với chương trình nhập liệu và ghi sổ đồng bộ giữa ghi Sổ tổng hợp và ghi sổ chi tiết, song nếu sử dụng kế toán thủ công hoặc bán thủ công thì sai sót rất dễ xảy ra nếu trong quá trình ghi đơn vào các Sổ chi tiết tài khoản 131- Phải thu của khách theo đối tượng khách hàng có sai phạm (bỏ sót nghiệp vụ hoặc ghi sai số tiền, sai cột … vv …). Lúc này các khâu kiểm soát rất khó phát hiện ra chỗ sai vì việc đối chiếu giữa ghi đơn trên sổ chi tiết và ghi kép trên sổ tổng hợp không hiệu quả  nếu kế toán lấy số liệu từ sổ chi tiết sau khi khoá để ghi vào sổ tổng hợp.
                Để khắc phục những sai sót trên chúng ta cần có cách hiểu và sử dụng đúng bản chất các tài khoản lưỡng tính vừa giúp đưa ra các chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính trung thực, đúng đắn, không vi phạm các nguyên tắc lập báo cáo, đồng thời vẫn phải đảm bảo việc kiểm soát hoạt động ghi chép vào tài khoản kế toán, bởi chức năng của kế toán không phải chỉ là thông tin mà còn là kiểm tra.Do vậy, người làm kế toán cần lưu ý một số điểm sau:
                Thứ nhất, chúng ta không nên bị  “đánh lừa” bởi tên tài khoản, ví dụ như nhóm tài khoản thanh toán với khách hành hoặc người bán thực chất phải có tên là “Thanh toán với đối tượng xxx”, ví dụ như tài khoản 131- Thanh toán với khách hàng, tài khoản 331 – Thanh toán với người bán … Như vậy trong thanh toán với đối tượng khách hàng tồn tại cả nợ phải thu và nợ phải trả là thường xuyên và đương nhiên, tương tự đối với thanh toán với nhà cung cấp hoặc đối tượng khác cũng như vậy.
Thứ hai, trên tài khoản tổng hợp theo dõi toàn bộ các khoản thanh toán với tất cả các đối tượng khách hàng, thì khi khoá sổ chỉ tồn tại một số dư mà thôi, cụ thể với tài khoản 131- Thanh toán với khách hàng là số dư sau khi đã bù trừ giữa nợ phải thu khách hàng và nợ phải trả khách hàng (khách hàng trả thừa hoặc khách hàng ứng trước tiền). Nguyên tắc bù trừ áp dụng khi lập Báo cáo tài chính để giúp cho ra thông tin trung thực và minh bạch nhất có thể; trong khi công dụng của tài khoản tổng hợp theo dõi công nợ khách hàng là đưa ra cái nhìn bao quát chung tình hình chiếm dụng vốn hoặc bị chiếm dụng vốn trong thanh toán với tất cả khách hàng nên việc bù trừ là có thể chấp nhận được. Hơn nữa, người sử dụng thông tin kế toán chưa thể và không cần nhìn trên tài khoản tổng hợp để ra quyết định kinh tế.
Thứ ba, việc ghi trên sổ kế toán tổng hợp (Sổ Cái tài khoản 131- Thanh toán với khách hàng) và ghi trên sổ kế toán chi tiết (từng Sổ chi tiết tài khoản 131- Thanh toán với khách hàng theo đối tượng khách hàng) diễn ra song hành. Tức là khi có nghiệp vụ phát sinh, căn cứ vào chứng từ liên quan, kế toán ghi kép vào hệ thống sổ tổng hợp và ghi đơn vào sổ chi tiết đối tượng tương ứng.
Thứ tư, cuối kỳ khi tiến hành khoá sổ kế toán, việc tính toán diễn ra độc lập ở từng loại sổ, và trên mỗi sổ phản ánh tài khoản dù là tổng hợp hay chi tiết chỉ tồn tại một số dư ở một bên theo nguyên lý chung hạch toán kế toán là chênh lệch giữa tổng tiền bên Nợ và tổng tiền bên Có (không phân biệt số dư đầu kỳ hay phát sinh trong kỳ).
Thứ năm, sau khi khoá sổ cần lập Bảng chi tiết số phát sinh tài khoản để kiểm tra đối chiếu giữa việc ghi chép trên các tài khoản chi tiết và tài khoản tổng hợp, phát hiện sai sót và điều chỉnh kịp thời. Số liệu tại dòng tổng cộng của Bảng này được đối chiếu với số liệu tổng cộng phát sinh và tính số dư cuối kỳ trên tài khoản tổng hợp xem có phù hợp hay không.
Thứ sáu, cuối kỳ để kiểm tra tính chính xác của việc ghi chép trên các tài khoản tổng hợp và lấy căn cứ để xây dựng các Báo cáo tài chính, kế toán cần lập Bảng đối chiếu số phát sinh trong tháng của tất cả các tài khoản kế toán tổng hợp, bảng này chính là Bảng cân đối tài khoản, và số liệu để vào bảng này lấy từ tài khoản tổng hợp như: TK 131- Thanh toán với khách hàng hoặc tài khoản 331 – Thanh toán với người bán …
Thứ bảy, để lập Bảng cân đối kế toán mà không vi phạm nguyên tắc bù trừ, số liệu liên quan đến nhóm tài khoản lưỡng tính phải lấy từ tài khoản chi tiết. mà theo quan điểm của tác giả là có thể sử dụng Bảng chi tiết số phát sinh sau khi đã hoàn tất việc kiểm tra đối chiếu giữa ghi chép vào tài khoản tổng hợp và tài khoản chi tiết. Như vậy, khi lập Bảng này kế toán cần lưu ý tại dòng tổng cộng là số liệu cộng theo cột của tất cả các đối tượng, vì thế dòng tổng cộng cột “Số dư đầu kỳ” hoặc “Số dư cuối kỳ” có thể có cả 2 bên Nợ và Có. Khi đối chiếu với tài khoản tổng hợp phải bù trừ số liệu của 2 bên.
Ví dụ minh hoạ: Doanh nghiệp có quan hệ thanh toán với 3 khách hàng A, B, C. Trong tháng 8/N có tình hình sau: (đơn vị tính triệu đồng)
I.                    Số dư đầu tháng:
TK 131- Thanh toán với khách hàng (Dư Nợ)                                              30
Trong đó:
+ TK 131A- Thanh toán với khách hàng A (Dư Nợ)                                    50
+ TK 131B- Thanh toán với khách hàng B (Dư Có)                    30
+ TK 131C- Thanh toán với khách hàng C (Dư Nợ)                    10
II.                  Giao dịch phát sinh trong tháng:
1.       Khách hàng A thanh toán nợ tháng trước 20.
2.       Khách hàng B lấy hàng, tất toán một phần số tiền đã ứng tháng trước 20.
3.       Khách hàng C thanh toán toàn bộ tiền hàng còn nợ tháng trước 10.
4.       Khách hàng C ứng trước tiền hàng cho lô hàng tháng sau 40.

III.               Kế toán sẽ phản ánh vào các tài khoản và lên các Bảng biểu như sau:



TK 131A




Dư ĐK: 50






20 (1)




-
20




Dư CK: 30

TK 131- TTVKH




Dư ĐK: 30



TK 131B

20 (1)



Dư ĐK: 30
(2) 20



(2) 20


10 (3)


20
-

40 (4)



Dư CK: 10
20
70





Dư CK: 20


TK 131C



Dư ĐK: 10






10 (3)





40 (4)




-
50





Dư CK: 40

               
Riêng  Số dư tài khoản tổng hợp đối chiếu với số dư đã bù trừ trên Bảng chi tiết số phát sinh, tuỳ thuộc tổng số dư bên Nợ nhiều hơn hay ít hơn tổng số dư bên Có của các tài khoản chi tiết mà số dư bù trừ trên Bảng sẽ ở bên nào.
Do vậy, việc trên cùng một tài khoản lưỡng tính, đầu kỳ có số dư bên Nợ (tính tài sản) nhưng cuối kỳ có số dư bên Có (tính nguồn vốn) là hoàn toàn có thể xảy ra.

Bảng chi tiết số phát sinh
Tài khoản 131- Thanh toán với khách hàng
Tháng 8 năm N
Đơn vị tính: triệu đồng
STT
Tên KH
Số dư đầu kỳ
Phát sinh trong kỳ
Số dư cuối kỳ
1
A
50

-
20
30

2
B

30
20
-

10
3
C
10

-
50

40
Tổng cộng
60
30
20
70
30
50
Đối chiềuTKTH
30

20
70

20

                                BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Tài Sản
Nguồn Vốn
…..
…
Phải thu khách hàng                        30
Phải trả khách hàng  (*)                   50
…
…

(*) Chỉ tiêu này trong hướng dẫn lập Báo cáo tài chính của Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành có tên “Người mua trả tiền trước” nhưng theo quan điểm tác giả nên để tên “Phải trả khách hàng” vừa rõ ràng, dễ hiểu, dễ phân biệt với khoản phải thu khách hàng, đồng thời bao quát hết các nội dung thanh toán phải trả khách hàng (ngoài tiền khách hàng ứng trước chưa lấy hàng hoặc sử dụng dịch vụ còn có số tiền khách hàng trả thừa).
                Trên đây là quan điểm của tác giả về việc ứng dụng phương pháp tài khoản kế toán sao cho hợp lý nhất trong công tác kế toán doanh nghiệp. Với thời lượng có hạn bài báo chỉ tập trung trình bày về tài khoản lưỡng tính (công nợ) - nhóm tài khoản gây nhiều thắc mắc và tranh cãi khi sử dụng trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp hiện nay. Ngoài các tài khoản trên trong quá trình ứng dụng phương pháp tài khoản kế toán phản ánh các giao dịch và thiết lập các báo cáo tài chính cón khá nhiều vướng mắc, nhất là đối với các tài khoản có số dư 2 bên hoặc tài khoản có nhiều tài khoản chi tiết với số dư nằm ở các bên khác nhau. Vấn đề này tác giả sẽ xin được trình bày ở các bài sau.